17:46 | 08/01/2018

Tỷ giá tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh tiền tệ

Tại buổi họp báo triển khai hoạt động ngân hàng năm 2018, ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại tệ năm 2017 về cơ bản là ổn định. 

Năm 2017 tín dụng tăng 18,17%; dự kiến năm 2018 tín dụng tăng 17%
Kiên định mục tiêu ổn định vĩ mô
Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại buổi họp báo

Theo đó, trong năm 2017 NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm có tăng có giảm nên đã giảm thiểu tình trạng găm giữ ngoại tệ, giảm tâm lý kỳ vọng của thị trường. Tính chung trong năm 2017, tỷ giá trung tâm chỉ tăng 1,2%. Bên cạnh đó, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, việc điều chỉnh linh hoạt tỷ giá cũng giúp NHNN mua vào một lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước.

Nhờ đó, theo đánh giá của Bloomberg, đồng Việt Nam là một trong những đồng tiền ổn định nhất châu Á. Thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ tổ chức, cá nhân với khối lượng lớn, từ đó có điều kiện bán lại cho NHNN để bổ sung Dự trữ ngoại hối Nhà nước.

“Tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao… là điểm sáng và là một trong những cơ sở để các tổ chức quốc tế nâng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam”, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho hay.

Đặc biệt, sự chủ động linh hoạt trong điều hành của NHNN còn được thể hiện qua việc NHNN thực hiện đồng bộ linh hoạt hút tiền về khi mua vào ngoại tệ để duy trì  cung tiền ở mức hợp lý, phòng ngừa rủi ro lạm phát, ổn định lạm phát cơ bản ở mức trung bình 1,41%.

“Trong bối cảnh NHNN mua lượng ngoại tệ lớn từ thị trường, nhất là giai đoạn vừa rồi, các DN, Tập đoàn lớn thực hiện chủ trương thoái vốn với sự tham gia tích cực của các NĐT nước ngoài, một lượng ngoại tệ lớn đã được đưa vào Việt Nam. Vấn đề ở đây, khi thị trường tiếp nhận một lượng ngoại tệ lớn như vậy đòi hỏi NHNN điều hành khéo léo để đảm bảo không ảnh hưởng đến cung tiền, kéo theo rủi ro lạm phát. Thực tế, nhờ kinh nghiệm điều hành tỷ giá ngày càng nhuần nhuyễn, NHNN đã thực hiện rất tốt việc này, vừa tăng cường dự trữ ngoại hối vừa kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức thấp”, một chuyên gia ngân hàng nhìn nhận.

Thị trường vàng cũng có một năm bình yên nhờ những giải pháp đồng bộ, linh hoạt quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định 24/2012/ NĐ-CP của Chính phủ.

Ông Phạm Thanh Hà cho biết, từ đầu năm 2017 đến nay, giá vàng trong nước diễn biến tương đối ổn định và biến động trong biên độ hẹp ngay cả khi giá vàng quốc tế diễn biến phức tạp.

Đáng chú ý, nhu cầu vàng miếng trong nền kinh tế ngày càng suy giảm, doanh số mua, bán vàng miếng trong hệ thống duy trì ở mức thấp. Vì vậy thị trường không xuất hiện các “cơn sốt” vàng miếng, không còn tình trạng đầu cơ, làm giá gây bất ổn đến tỷ giá, thị trường ngoại tệ và sự ổn định kinh tế vĩ mô. Một phần nguồn vốn bằng vàng bước đầy được chuyển hoá để phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong năm qua, nhưng Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nhìn nhận, năm 2018 với độ mở cửa của nền kinh tế khá cao, nên trong điều hành của NHNN không bao giờ chủ quan mà tiếp tục chú trọng theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, đặc biệt động thái tăng lãi suất của FED, điều chỉnh chính sách tỷ giá của các nước có mối quan hệ thương mại đầu tư với Việt Nam để đầu tư điều hành cho linh hoạt, giữ ổn định tỷ giá, thị trường ngoại tệ.

“NHNN tiếp tục điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp tình hình thị trường, cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ; tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối khi thị trường thuận lợi và thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng”, lãnh đạo NHNN nhấn mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.330 26.969 27.291 30.270 30.755 204,87 213,07
BIDV 23.250 23.330 26.977 27.300 30.290 30.758 205,02 208,45
VietinBank 23.243 23.333 26.916 27.294 30.239 30.799 204,95 208,35
Agribank 23.245 23.325 26.965 27.302 30.314 30.752 205,10 208,34
Eximbank 23.240 23.340 26.980 27.341 30.401 30.807 205,69 208,44
ACB 23.260 23.340 27.000 27.348 30.498 30.814 205,83 208,48
Sacombank 23.254 23.346 27.004 27.363 30.468 30.830 205,87 208,91
Techcombank 23.220 23.330 26.711 27.440 30.045 30.888 204,37 209,70
LienVietPostBank 23.220 23.320 26.906 27.371 30.427 30.846 205,30 209,02
DongA Bank 23.260 23.340 27.990 27.290 30.390 30.770 204,40 208,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.680
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.660
Vàng SJC 5c
36.510
36.680
Vàng nhẫn 9999
34.300
34.700
Vàng nữ trang 9999
33.850
34.650