09:27 | 19/09/2019

Xuất khẩu và xuất siêu tăng mạnh vì đâu?

Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu tăng mạnh, đẩy xuất siêu tăng vọt trong tháng 8 vừa qua...

Lợi dụng phân luồng để gian lận thuế
Bức tranh kinh tế sáng hơn, nhưng chưa hết lo
Ảnh minh họa

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 8 đạt tới 25,88 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước, cao hơn nhiều so với con số ước tính của Tổng cục Thống kê là 24,50 tỷ USD và tăng 6,6%. Trong khi kim ngạch nhập khẩu tháng 8 lại chỉ đạt có 22,45 tỷ USD, thấp hơn một chút so với ước tính của Tổng cục thống kê là 22,8 tỷ USD.

Nhờ đó, trong tháng 8 cán cân thương mại hàng hóa thặng dư tới 3,43 tỷ USD, gấp hơn 2 lần so với mức thặng dư trong 7 tháng đầu năm. Tính chung 8 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư tới 5,38 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 171,30 tỷ USD (tăng 8,1% so với cùng kỳ 2018), kim ngạch nhập khẩu đạt 165,92 tỷ USD (tăng 8,0%).

Đó quả là một tin vui đối với nền kinh tế. Bởi về mặt lý thuyết cán cân thương mại thặng dư lớn như vậy sẽ hỗ trợ tích cực cho cán cân vãng lai và cán cân thanh toán tổng thể của nền kinh tế. Cán cân thanh toán được cải thiện, nguồn cung ngoại tệ dồi dào đã góp phần tích cực duy trì ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá những tháng đầu năm.

Trên thực tế, VND được ghi nhận là một trong số rất ít các đồng tiền trong khu vực không bị mất giá nhiều so với USD kể từ đầu năm đến nay. Tính chung từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm mới tăng 1,39%. Trong khi giá bán ra USD tại các ngân hàng thương mại mới chỉ tăng khoảng 50 - 60 đồng/USD so với cuối năm 2018, tức mới tăng khoảng 0,2% - 0,25%; còn giá mua vào vẫn ngang bằng như cuối năm trước.

Thế nhưng, trong niềm vui này vẫn ẩn chứa nhiều nỗi lo.

Thứ nhất là thành tích xuất khẩu, xuất siêu này chủ yếu do đóng góp của khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI). Cụ thể, trong tháng 8 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của khối này tăng tới 17,1% so với tháng trước, đạt 17,67 tỷ USD; nâng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng lên 117,21 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ. Trong khi kim ngạch nhập khẩu của khối này chỉ đạt 13,34 tỷ USD trong tháng 8 và 95,95 tỷ USD kể từ đầu năm.

Như vậy, khối DN FDI xuất siêu tới 4,33 tỷ USD trong tháng 8 vừa qua và xuất siêu 21,26 tỷ USD kể từ đầu năm. Điều đó cũng có nghĩa khu vực kinh tế 100% vốn trong nước nhập siêu 0,9 tỷ USD trong tháng vừa qua và nhập siêu 15,88 tỷ USD kể từ đầu năm.

Nỗi lo thứ hai còn lớn hơn nhiều khi mà hiện xuất khẩu và xuất siêu, kể cả của khu vực DN FDI, cũng đang phụ thuộc rất lớn vào một vài sản phẩm; mà cụ thể ở đây là điện thoại của Samsung. Theo đó việc xuất khẩu và xuất siêu bật tăng mạnh trong tháng 8 một phần cũng nhờ Samsung chính thức phát hành phiên bản Samsung Galaxy Note 10, đã đẩy kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện tăng 48% so với tháng trước, đạt hơn 5,9 tỷ USD. Tính chung 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt tới 33,39 tỷ USD, chiếm gần 19,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Giới chuyên gia đã nhiều lần cảnh báo về những rủi ro khi xuất khẩu, xuất siêu phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI. Do hoạt động sản xuất, xuất hàng của khối FDI phụ thuộc rất mạnh vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, nên mỗi khi có biến động với chuỗi cung ứng, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh mẽ.

Hơn nữa hiện hoạt động của các DN FDI phần nhiều vẫn là gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa rất thấp nên cho dù kim ngạch xuất khẩu và của khối này là khá lớn, nhưng giá trị gia tăng mang lại cho nền kinh tế không nhiều. Hệ quả là dù xuất siêu lớn, nhưng sau khi sau khi chuyển lợi nhuận về nước thì lượng ngoại tệ để lại trong nền kinh tế cũng không nhiều.

Đó là chưa kể, cách thu hút vốn FDI hiện nay khiến lợi ích đất nước bị thu hẹp do ưu đãi quá lớn cho các DN FDI; trong khi nhiều dự án FDI có hàm lượng công nghệ thấp, chủ yếu là khai thác tài nguyên và thâm dụng lao động giá rẻ, gây ô nhiễm môi trường…

Nói như vậy không có nghĩa là tìm cách kìm hãm FDI, song đã đến lúc phải thay đổi chính sách thu hút FDI, tập trung thu hút những dụ án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn. Bên cạnh đó, cần yêu cầu DN FDI nghiêm túc thực hiện chính sách chuyển giao công nghệ, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa để kết nối, lan tỏa đến khu vực DN trong nước…

Song song với đó, phải hỗ trợ DN trong nước phát triển, gia tăng tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu của khối kinh tế trong nước. Chỉ có như vậy thì xuất khẩu, xuất siêu mới tăng trưởng bền vững và nền kinh tế mới có thể hưởng trọn vẹn thành quả mà xuất khẩu, xuất siêu mang lại.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670