2022 - Năm bản lề cho tăng trưởng bền vững

08:09 | 06/07/2022

Năm 2022 được xác định là năm phục hồi, năm nền tảng quan trọng để quay trở lại quỹ đạo phát triển kinh tế - xã hội bền vững từ năm 2023, qua đó hoàn thành mục tiêu chung của cả giai đoạn 2021-2025. Hết 6 tháng đầu năm 2022, cơ bản mọi việc đang đi đúng như mục tiêu và kế hoạch đặt ra, thậm chí khả quan hơn dự tính.

2022 nam ban le cho tang truong ben vung Phấn đấu tăng trưởng GDP đạt 7% trong năm 2022
2022 nam ban le cho tang truong ben vung Vui tăng trưởng cao, vẫn lo lạm phát
2022 nam ban le cho tang truong ben vung Vững tin mục tiêu tăng trưởng GDP

Tăng trưởng cả năm có thể đạt 7%

Sáu tháng đầu năm 2022, tăng trưởng GDP đạt 6,42% so với cùng kỳ, cao hơn so với dự kiến kịch bản theo Nghị quyết 01 (là từ 5,1-5,7%), cao hơn so với cùng kỳ năm 2021 (5,74%) và đã trở lại tương đương mức bình quân các năm trước dịch từ năm 2016-2019 (6,38%).

Đáng chú ý sự phục hồi mạnh mẽ diễn ra đồng đều trên tất cả các lĩnh vực, trong đó dịch vụ có thể coi là điểm nhấn khi tăng 6,6%, cao gấp 1,7 lần so với cùng kỳ; quyền số đóng góp cũng trở lại mức cao nhất khi đóng góp 46,6% (6 tháng đầu năm 2021 khu vực dịch vụ chỉ tăng 3,92%, đóng góp 32,78%). Nói cách khác, thế “kiềng 3 chân” trong phục hồi và đóng góp của khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ cho tăng trưởng đã được tái thiết lập vững chắc, đặc biệt trong quý II vừa qua.

2022 nam ban le cho tang truong ben vung
Du lịch luôn là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam

Tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương và Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2022 ngày 4/7, các ý kiến đều thống nhất đánh giá việc tăng trưởng GDP đạt mức ấn tượng đã và đang cho thấy nền kinh tế đang phục hồi đồng đều, toàn diện. Trong khi mọi hoạt động kinh tế trở lại nhịp bình thường giúp nền kinh tế trở lại với mức tăng trưởng cao, kinh tế vĩ mô (KTVM) tiếp tục được ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm, thị trường tiền tệ ổn định.

Những kết quả tích cực ấy sẽ càng rõ nét hơn nếu so sánh với tình hình thế giới hiện nay, với “đặc trưng” là tăng trưởng chậm lại trong khi lạm phát cao lên. Trong các nhận định và dự báo của mình, rất nhiều định chế, tổ chức quốc tế gần đây cũng đều có những đánh giá rất tích cực về kinh tế Việt Nam.

Trên cơ sở những kết quả tích cực 6 tháng đầu năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cập nhật 2 kịch bản tăng trưởng cho năm nay. Kịch bản 1: Tăng trưởng kinh tế đạt 6,5%, muốn vậy quý III cần đạt mức tăng trưởng 7,9% (tức trong khoảng 7,5-8% đưa ra tại Nghị quyết 01) và quý IV tăng 5,5% (thấp hơn 0,7% so với Nghị quyết 01). Kịch bản 2: Tăng trưởng đạt 7%, theo đó quý III cần đạt mức tăng 9% (cao hơn 1% so với Nghị quyết 01) và quý IV tăng 6,3% (trong khoảng 6,7-6,7% theo Nghị quyết 01).

Trong đó theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kịch bản tăng trưởng đạt 6,5% là “khả thi tương đối lớn”, và bộ này kiến nghị cần phấn đấu mục tiêu đạt khoảng 7%, cao hơn khoảng 0,5% theo mức cao của mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% đã đặt ra.

Phải biến nguy thành cơ

Tuy tình hình khả quan, nhưng theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương, điều đó không có nghĩa nền kinh tế của chúng ta không còn khó khăn. “Nổi lên là hai vấn đề lớn. Thứ nhất là vấn đề giá cả. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phân tích rất kỹ tác động của việc tăng giá, giá dầu tăng đã ảnh hưởng tới hàng loạt giá cả khác, đặc biệt là giá nguyên liệu đầu vào, chi phí logistics tăng cao khiến giá hàng hóa tăng, sản xuất, bán hàng khó khăn hơn, ảnh hưởng tới kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh của các DN. Thứ hai là thiếu hụt lao động. “Đây không phải vấn đề mang tính dài hạn nhưng lại ảnh hưởng lớn tới các DN, đặc biệt là các khu vực trung tâm động lực của nền kinh tế khi lao động chưa sẵn sàng quay trở lại làm việc”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết.

Bên cạnh đó, còn nhiều thách thức, rủi ro lớn khác như: Dịch bệnh vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường với những biến thể phụ mới BA.4 và BA.5 của biến chủng Omicron đã xuất hiện tại Việt Nam; Giải ngân đầu tư công chậm và còn nhiều vướng mắc; việc thực hiện và giải ngân một số chính sách đã ban hành thuộc Chương trình phục hồi còn chậm, đạt kết quả thấp…

Đánh giá nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm là rất nặng nề, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, tinh thần chỉ đạo chung là tuyệt đối không chủ quan, lơ là, luôn giữ vững nguyên tắc cơ bản nhưng chủ động, linh hoạt, sáng tạo, biến nguy thành cơ, tận dụng tốt cơ hội để phát triển bền vững. “Thông điệp chính là ưu tiên ổn định KTVM, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của các cấp, các ngành, các địa phương trong giai đoạn hiện nay”, Thủ tướng nêu rõ.

Theo đó, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để tổng hợp, xây dựng Đề án bảo đảm ổn định KTVM; chủ động cập nhật các kịch bản tăng trưởng. Các ý kiến tại hội nghị cũng thống nhất với phương án, kịch bản tăng trưởng GDP phấn đấu đạt 7% trong năm nay như Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị.

Với NHNN, Thủ tướng yêu cầu, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, an toàn và thận trọng, bảo đảm ổn định tỷ giá, lãi suất, thị trường ngoại hối, tiền tệ, tín dụng, tập trung tín dụng cho sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, tạo thuận lợi cho người dân và DN tiếp cận tín dụng; hướng dẫn các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, cố gắng giảm lãi suất cho vay; đẩy mạnh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém gắn với xử lý nợ xấu.

Thủ tướng yêu cầu, ưu tiên sử dụng chính sách tài khóa, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, bảo đảm hiệu quả. Tích cực báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh thuế đối với xăng dầu. Nghiên cứu, tiến hành thận trọng chính sách hỗ trợ về xăng dầu với một số đối tượng. Để kiểm soát lạm phát, Thủ tướng chỉ đạo quản lý chặt chẽ giá cả, phòng chống đầu cơ, tích trữ găm hàng; bảo đảm nguồn cung xăng dầu, năng lượng; đẩy mạnh chuyển đổi năng lượng, sử dụng tiết kiệm năng lượng, chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống.

Với đầu tư công, cần siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kịp thời điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt. Thủ tướng cũng yêu cầu tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, pháp luật, quy hoạch, cơ chế, chính sách; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; Triển khai quyết liệt, hiệu quả chương trình phục hồi và phát triển, 3 Chương trình mục tiêu quốc gia, các nghị quyết về phát triển vùng và các dự án giao thông trọng điểm. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh công tác sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN…

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.266 23.821 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.244 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.300
Vàng SJC 5c
66.300
67.320
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000