Cải cách thể chế: Một là tốc độ, hai là cơ chế

08:52 | 05/06/2020

Các chuyên gia cho rằng với vị thế mới của Việt Nam, với tinh thần quyết liệt kiểm soát dịch bệnh và nỗ lực phục hồi kinh tế, nếu thúc đẩy cải cách thể chế mạnh mẽ, nhất là với tốc độ “đặc biệt” như phòng chống dịch vừa qua thì kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ.

Đầu tư công khó đẩy nhanh vì nút thắt thể chế
Thể chế vẫn cách xa thông lệ quốc tế
Chuẩn bị về thể chế là quan trọng nhất

Chất lượng thể chế là điểm nghẽn lớn nhất

Theo ông Nguyễn Anh Dương - Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung tương (CIEM), đại dịch Covid-19 đã khiến kinh tế thế giới rơi vào suy thoái. Song điểm tích cực là nó làm bộc lộ rõ nhiều nhược điểm và những điểm nghẽn của kinh tế toàn cầu. Việt Nam cũng không ngoại lệ, nhiều điều tốt song cũng không ít nhược điểm của nền kinh tế đã lộ ra rõ hơn. Những điểm nghẽn lớn nhất, gây ảnh hưởng mạnh nhất, đó là chất lượng thể chế. Chất lượng thể chế thể hiện ở việc triển khai Chính phủ điện tử; ở hiệu quả điều phối và sử dụng nguồn lực công; ở phát triển bền vững, phát triển bao trùm; ở ứng xử với nhà đầu tư. 

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế, bước vào một giai đoạn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mới. Việc nhận diện để tháo bỏ được những điểm nghẽn phát triển sẽ quyết định tương lai của Việt Nam, sẽ khiến cho khát vọng về một Việt Nam hưng thịnh hùng cường gần lại sớm thành hiện thực hay mãi vẫn chỉ là… khát vọng.

Việt Nam tiếp tục đổi mới cải cách thể chế, tái cấu trúc với những điều mới đều cần tốc độ và có cơ chế đặc thù

Việt Nam đã có vị thế mới với thế giới khi mà chúng ta đã kiểm soát tốt được dịch bệnh và đang trong quá trình phục hồi kinh tế. Nhưng hệ lụy từ đại dịch Covid-19 được dự đoán là sẽ kéo dài và diễn biến phức tạp, đòi hỏi Chính phủ phải cân nhắc những yêu cầu mới, nhằm đảm bảo nền kinh tế sẽ phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và có tính chống chịu tốt hơn. Hơn nữa, đại dịch đang khiến thế giới đối diện với một cuộc khủng hoảng kinh tế mới được dự báo là sẽ rất lớn. Căng thẳng/xung đột địa chính trị, chủ nghĩa cực đoan tiếp tục diễn biến phức tạp. Rủi ro đối với thương mại và đầu tư toàn cầu chưa lắng xuống: chủ nghĩa bảo hộ; căng thẳng thương mại; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung còn nhiều bất định. Đã vậy cuộc CMCN 4.0 và kinh tế số đã khiến đua tranh giữa các nền kinh tế trở nên rõ hơn cộng thêm gia tăng sự đối đầu giữa phát triển công nghệ và tư duy quản lý, kể cả ở các nước phát triển.

Xu hướng va đập ngày càng lớn

Trong khi đó, TS. Võ Trí Thành - thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng lưu ý: “Xu hướng va đập của các nền kinh tế, các quốc gia ngày càng lớn, chủ nghĩa đa cực, đơn cực, song cực khiến các nước nhỏ, yếu thế phải có chính sách linh hoạt”. Vì thế, Việt Nam cần lường trước các diễn biến của thế giới để có các biện pháp điều hành kinh tế phù hợp, trong đó cần tập trung giải quyết 3 bài toán lớn.

Thứ nhất, khống chế dịch, sống chung với nguy cơ dịch và những rủi ro, bất ổn khác của kinh tế thế giới, đồng thời hỗ trợ kinh tế, sản xuất kinh doanh tồn tại, phục hồi phát triển. Thứ hai, xử lý các vấn đề còn tồn đọng. Thứ ba, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục đổi mới cải cách thể chế, tái cấu trúc với những điều mới. Cả ba bài toán này đều cần tốc độ và có cơ chế đặc thù.

“Trong thế giới ngày nay, không chỉ công nghệ mà mọi thứ đều nhanh, đều rủi ro nên cần phải tốc độ. Các bước cải cách cần đạt được tốc độ và cách thức thực hiện phù hợp. Lúc này, đòi hỏi cơ chế đặc thù, giải quyết bài toán bộ máy, cơ chế phản ứng và sự quyết liệt”, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Cũng nhấn mạnh về tốc độ, ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định, nhiều rủi ro, việc phản ứng nhanh với các chính sách của Chính phủ là điều quan trọng góp phần giảm thiểu những rủi ro. Đặc biệt, hiện môi trường đầu tư kinh doanh cần dịch chuyển sang hướng thúc đẩy, thay vì chỉ hỗ  trợ. “Chúng ta đã đi những bước dài trong cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh, gia nhập thị trường. Nhưng hiện giờ phải bước vào giai đoạn cải cách khó khăn hơn, đó là xử lý các thủ tục bảo đảm quyền tài sản, thực thi hợp đồng, giải quyết tranh chấp. Lúc này, cải cách phải theo hướng tạo thuận lợi, chủ động lựa chọn và thúc đẩy đầu tư, chứ không đơn giản là tháo gỡ khó khăn”, ông Tuấn nhấn mạnh. Muốn vậy, việc khắc phục những điểm nghẽn về thể chế để tháo gỡ nhằm có khung khổ pháp luật minh bạch, quản trị tốt là vô cùng quan trọng.

Các chuyên gia cho rằng với vị thế mới của Việt Nam, với tinh thần quyết liệt kiểm soát dịch bệnh và nỗ lực phục hồi kinh tế, nếu thúc đẩy cải cách thể chế mạnh mẽ, nhất là với tốc độ “đặc biệt” như phòng chống dịch vừa qua thì kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ.

Góp ý kiến cho định hướng chính sách tháo bỏ điểm nghẽn, ông Nguyễn Anh Dương đề nghị xây dựng và thực thi kế hoạch phục hồi tăng trưởng kinh tế, trọng tâm là tái cơ cấu kinh tế, hoàn thiện chính sách công nghiệp và thu hút FDI. Cùng với đó cần cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho DN thông qua phát triển hạ tầng (bao gồm cả hạ tầng cứng và hạ tầng số); phát triển kỹ năng thích ứng cho DN và người lao động. Đồng thời thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại (FTA), đặc biệt là các FTA mới (CPTPP, EVFTA), tận dụng tối đa các mô hình kinh tế mới: kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn... để thúc đẩy kết nối dịch vụ, sản xuất kinh doanh, phục hồi đà tăng trưởng.

3 điểm nghẽn phát triển Việt Nam phải vượt qua

Thứ nhất, chất lượng thể chế vẫn còn thấp: Xây dựng Chính phủ điện tử (tiến tới Chính phủ số) vẫn còn chậm. Hiệu quả điều phối và sử dụng nguồn lực công chưa cao. Phát triển bao trùm bền vững vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, cần phải thay đổi nhận thức và tư duy trong ứng xử đối với nhà đầu tư, không chỉ là vấn đề cắt giảm thủ tục không cần thiết như hiện nay.

Thứ hai, hạ tầng số vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nội tại của nền kinh tế. Hiện nay, theo xếp hạng về sẵn sàng công nghệ của Economist Intelligence Unit (EIU) thì Việt Nam dù cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp: xếp hạng thứ 65 cho giai đoạn 2018 – 2022 (so với thứ 67 trong giai đoạn 2013 – 2017).

Thứ ba, kỹ năng và năng suất lao động vẫn còn thấp và chậm được cải thiện so với yêu cầu. Khả năng thích ứng với điều kiện làm việc trong chuỗi giá trị và khả năng thích ứng với điều kiện có biến động lớn vẫn còn hạn chế.

Nguồn: CIEM

Linh Đan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080