Cơ cấu lại nền kinh tế: Tạo đà cho giai đoạn tiếp theo

09:16 | 14/10/2020

Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về kết quả thực hiện các mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế theo Nghị quyết số 24/2016/QH14 của Quốc hội trong phiên họp ngày 13/10, Chính phủ cho biết, việc cơ cấu lại ba trọng tâm gồm đầu tư công, DNNN và các TCTD giai đoạn 2016-2020 đã đạt những thành tựu quan trọng tạo đà cho phát triển kinh tế giai đoạn tiếp theo…

co cau lai nen kinh te tao da cho giai doan tiep theo Năm 2020 ưu tiên cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
co cau lai nen kinh te tao da cho giai doan tiep theo Cần tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế
co cau lai nen kinh te tao da cho giai doan tiep theo
Năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành của các TCTD đã được nâng cao một bước

Cơ cấu lại các TCTD về cơ bản đã hoàn thành mục tiêu

Theo đánh giá của Chính phủ, nhìn chung giai đoạn 2016-2020, khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách về tiền tệ và hoạt động ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện. Theo đó, việc cơ cấu lại các TCTD gắn liền với xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các TCTD theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế đã được triển khai quyết liệt, đồng bộ, thực chất và hiệu quả hơn.

Giai đoạn từ 2016 đến thời điểm 31/7/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 620,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu; thu được 91.401 tỷ đồng, bằng khoảng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế. Tính đến 31/7/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD ở mức 1,92%, mặc dù cao hơn so với mức 1,63% vào cuối năm 2019, nhưng vẫn được duy trì, kiểm soát dưới 3%. 

Tuy nhiên, dịch bệnh Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực đến an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD nói riêng và các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế nói chung. Trong điều kiện các hoạt động kinh tế suy giảm do chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh, nợ xấu ngân hàng sẽ tăng trong thời gian tới do khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm. Vì vậy nhiệm vụ duy trì nợ xấu dưới 3% này là rất thách thức và cần được tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn sau 2020.

Điều đáng mừng là hiện năng lực quản trị điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế và tính minh bạch trong hoạt động tín dụng của TCTD từng bước được cải thiện với hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng được xây dựng theo mô hình 3 tuyến bảo vệ phù hợp với thông lệ quốc tế mới nhất về quản trị ngân hàng và quản trị rủi ro phù hợp theo hướng dẫn của Ủy ban Basel.

Trong khi năng lực của VAMC được nâng cao để mua, bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ, đồng thời bố trí nguồn lực phù hợp để xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu.

Cùng với đó, việc ngành Ngân hàng cũng quyết liệt xử lý và xóa bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo; đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của các NHTM; tình trạng cổ đông/nhóm cổ đông lớn, thao túng, chi phối ngân hàng về cơ bản được kiểm soát. 

Về tín dụng, cơ cấu vốn tín dụng được chuyển dịch tích cực, tập trung vào các ngành sản xuất, ngành ưu tiên để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm dần tín dụng cho các lĩnh vực rủi ro. Đặc biệt từ năm 2017 đến nay, NHNN đã nhiều lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành cũng như trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Trong đó những tháng đầu năm 2020, để hỗ trợ nền kinh tế đối phó với dịch Covid-19. NHNN điều chỉnh giảm lãi suất 3 lần liên tiếp (ngày 17/3, ngày 13/5 và ngày 1/10) với quy mô cắt giảm tương đối mạnh trong nhiều năm trở lại đây.

Hiện lãi suất tái cấp vốn đã được giảm về còn 4,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm còn 2,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng giảm còn 5,0%/năm; lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở giảm còn 2,5%/năm. Trần lãi suất huy động đối với tiên gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm còn 0,2%/năm; kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm còn 4%/năm. Trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên cũng được giảm về còn 4,5%/năm.

So với các nước trong khu vực, Việt Nam hiện là một trong những nước có mức giảm lãi suất điều hành lớn nhất và ở mức trung bình so với mặt bằng của các nước có trình độ phát triển tương đồng.

Đầu tư công được kiểm soát chặt chẽ

Báo cáo của Chính phủ cũng cho biết, trong giai đoạn 2016-2020 nhiều văn bản pháp luật tạo khung pháp lý cho quá trình cơ cấu lại đầu tư công đã được sửa đổi, hoàn thiện nhằm thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020. Với sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, công tác giải ngân vốn đầu tư công đã có chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận, giải ngân vốn đầu tư công vẫn còn chậm; còn có khoảng cách giữa chất lượng thể chế quản lý đầu tư công của Việt Nam so với thông lệ quốc tế tốt; các bộ, cơ quan Trung ương và chính quyền một số địa phương chưa thực sự chỉ đạo kiên quyết trong triển khai thực hiện dự án trên địa bàn... vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu chưa được đề cao; công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp và chủ đầu tư chưa tốt khi giải quyết thủ tục hành chính và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.

Chính phủ cũng cho biết, cơ cấu lại DNNN được đẩy mạnh và thực chất hơn. Cổ phần hóa, thoái vốn đã được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường và được đẩy mạnh so với giai đoạn trước, từ đó số lượng DNNN được thu gọn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt. Lũy kế giai đoạn 2016 - tháng 8/2020, cổ phần hóa DNNN đã có 177 DN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa, với tổng giá trị là 443.503 tỷ đồng, (giá trị vốn nhà nước là 207.116 tỷ đồng); thoái vốn DNNN đạt 25.669 tỷ đồng, thu về 172.917 tỷ đồng. 

Bên cạnh đó, mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại DN dần được hoàn thiện. Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại DN được thành lập nhằm từng bước tách bạch chức năng quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.

Cùng với đó, tổng giá trị vốn chủ sở hữu nhà nước được bảo toàn và phát triển, tỷ lệ DNNN có lãi tăng, một số DNNN yếu kém đã trở lại hoạt động. So sánh giai đoạn 2016-2019 với giai đoạn 2011-2015: tổng giá trị tài sản của DNNN tăng 149%; trang bị tài sản cho người lao động tăng 189%; doanh thu thuần tăng 110%; lợi nhuận trước thuế tăng 114%; số lượng DNNN có lãi tăng từ 80,2% lên 81,2%.

Bên cạnh các kết quả đáng ghi nhận, quá trình cơ cấu lại DNNN vẫn còn một số hạn chế. Tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm, chưa đạt mục tiêu đề ra. Mô hình quản trị DN chậm được đổi mới, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Một số dự án, DN đã có những chuyển biến nhất định nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, đặc biệt trong bối cảnh của dịch bệnh Covid-19.

Hiển Lâm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400