Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/9

07:43 | 23/09/2020

Ngày 22/09, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.200 VND/USD, tặng mạnh 09 đồng so với phiên trước đó; NHNN tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 3,0%; VN-Index giảm nhẹ  1,75 điểm (-0,19%), xuống 906,19 điểm...

Tin trong nước:

Thị trường ngoại tệ: Phiên 22/09, NHNN niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.200 VND/USD, tặng mạnh 09 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được duy trì niêm yết ở mức 23.175 VND/USD; tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.846 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá của NHNN. Trên thị trường LNH, tỷ giá chốt phiên giao dịch ở mức 23.178 VND/USD, giảm 02 đồng so với phiên 21/09. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng trở lại 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.170 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Ngày 22/09, lãi suất chào bình quân LNH VND tăng trở lại 0,01 đpt ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống so với phiên trước đó, cụ thể: ON 0,16%; 1W 0,20%; 2W 0,28% và 1M 0,47%. Lãi suất chào bình quân LNH USD không thay đổi ở các kỳ hạn ON và 1W trong khi tăng 0,01 đpt ở các kỳ hạn 2W và 1M; giao dịch tại: ON 0,18%; 1W 0,22%; 2W 0,31%, 1M 0,45%. Lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp giảm ở các kỳ hạn 7Y và 10Y trong khi tăng ở các kỳ hạn còn lại, cụ thể: 3Y 0,69%; 5Y 1,37%; 7Y 1,80%; 10Y 2,78%; 15Y 2,98%.

Nghiệp vụ thị trường mở: Phiên hôm qua, NHNN tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán hôm qua, các chỉ số giao dịch quanh ngưỡng tham chiếu, thị trường không có biến động lớn. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm nhẹ  1,75 điểm (-0,19%), xuống 906,19 điểm; HNX-Index tăng 1,61 điểm (+1,23%), đạt 132,19 điểm; UPCoM-Index giảm 0,08 điểm (-0,13%) xuống mức 60,66 điểm. Thanh khoản thị trường vẫn ở mức cao với tổng giá trị giao dịch đạt gần 8.800 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng nhẹ hơn 1 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Theo thông tin NHNN cập nhật tại cuộc họp báo về kết quả hoạt động ngân hàng quý 3/2020 sáng 22/09, đến ngày 16/09/2020, tín dụng toàn hệ thống mới chỉ tăng 4,81% so với cuối năm 2019, tương đương chỉ hơn 1/2 mức tăng trưởng cùng kỳ năm trước (8,64%). Tính đến 14/09/2020, thực hiện Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho trên 271 nghìn khách hàng với dư nợ 321 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho gần 485 nghìn khách hàng với dư nợ 1,18 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất ưu đãi (thấp hơn phổ biến từ 0,5 - 2,5% so với trước dịch) với doanh số lũy kế từ 23/1 đến nay đạt 1,6 triệu tỷ đồng cho 310 nghìn khách hàng.                                                                                      

Tin quốc tế:

Phát biểu trước Quốc hội Mỹ, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed Jerome Powel nhấn mạnh kinh tế quốc nội của nước này đã cho thấy sự phục hồi kể từ sau khi dịch Covid-19 khiến kinh tế suy thoái. Tuy nhiên, ông cảnh báo con đường phía trước của nước Mỹ vẫn trong tình trạng bất ổn, và Fed sẽ làm những gì có thể khi thấy cần thiết. Cùng trong buổi điều trần của ông Powell, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ - Steven Mnuchin khẳng định kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục đi lên trong quý 3/2020 nhờ thị trường bán lẻ và sức tiêu dùng của người dân. Song, vị quan chức này vẫn cho rằng một gói cứu trợ tài khóa là điều cần thiết cho thị trường.

Hiệp hội Môi giới Quốc gia Mỹ NAR cho biết doanh số bán nhà cũ tại nước này đã có tháng tăng thứ ba liên tiếp. Doanh số trong tháng 8 đạt 6,0 triệu căn, tăng so với mức 5,85 triệu căn của tháng 7 và gần khớp với dự báo ở mức 6,05 triệu căn. Tháng 8 vừa qua cũng đánh giá mức doanh số cao nhất kể từ 12/2016 trở lại đây. So với cùng kỳ năm 2019, sản lượng của tháng 08/2020 tăng 10,5%. Ngoài ra, giá nhà bình quân tại Mỹ đang ở mức 310,6 nghìn USD/căn; cũng tăng khá mạnh 11,4% so với cùng kỳ 2019.

Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu của Đức Michael Roth kêu gọi London hủy bỏ dự luật thị trường nội địa, điều vi phạm nhiều đến thỏa thuận Brexit mà Anh và EU đã ký hồi đầu năm. Vòng đàm phán tiếp theo giữa Anh và EU dự kiến sẽ diễn ra ngày 02/10, hai bên vẫn đang có nhiều bất đồng liên quan tới quyền đánh cá, và sự cạnh tranh công bằng giữa các công ty của hai bên trong tương lai.

Tỷ giá ngày 22/09: USD = 0.854 EUR (0.54% d/d); EUR = 1.171 USD (-0.54% d/d); USD = 0.785 GBP (0.65% d/d); GBP = 1.273 USD (-0.65% d/d). 

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.075 23..287 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.830
56.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.830
56.330
Vàng SJC 5c
55.830
56.350
Vàng nhẫn 9999
53.430
53.930
Vàng nữ trang 9999
52.930
53.630