Giá thuê bất động sản công nghiệp tăng mạnh

10:34 | 23/04/2021

Theo kết quả nghiên cứu thị trường do Công ty Jones Lang Lasalle (JLL) vừa công bố, trong quý đầu năm 2021, bất chấp đại dịch Covid-19 và các hạn chế về di chuyển, bất động sản công nghiệp thời gian qua tiếp tục là lĩnh vực duy nhất ghi nhận tăng trưởng cả về giá thuê và tỷ lệ lấp đầy.

Thị trường đất công nghiệp cho thuê và nhà xưởng xây sẵn miền Nam không ghi nhận nguồn cung mới trong quý I. Hiện Đồng Nai, Bình Dương vẫn đang dẫn đầu nguồn cung bất động sản công nghiệp. Đây là 2 thị trường phát triển lâu đời nhất. Đồng Nai trội hơn các tỉnh khác về nguồn cung nhà xưởng sản xuất do có nền công nghiệp phát triển và quỹ đất đủ lớn. Nhìn chung, nguồn cung bất động sản công nghiệp ở miền Nam dự kiến sẽ tăng mạnh trong 5 năm tới để đáp ứng nhu cầu tăng cao trong khu vực và củng cố vị trí dẫn đầu về nguồn cung. Bất động sản công nghiệp ở Việt Nam vẫn rất đầy tiềm năng và được các nhà sản xuất lớn để mắt đến. Tỷ lệ lấp đầy hiện tại của khu công nghiệp (KCN) và nhà xưởng xây sẵn đều cao, tăng mạnh so với quý liền trước. Giá đất và giá thuê tiếp tục tăng trưởng cao.

gia thue bat dong san cong nghiep tang manh
Ảnh minh họa

Bà Nguyễn Hồng Vân - Giám đốc JLL Hà Nội cho biết, đất công nghiệp vẫn là lĩnh vực nóng nhất đối với những nhà sản xuất mới hoặc để đáp ứng nhu cầu mở rộng của các nhà sản xuất hiện hữu, vốn được hỗ trợ bởi tiềm năng sản xuất to lớn của Việt Nam. Do đó, hầu hết các chủ đầu tư KCN tại phía Nam vẫn duy trì đà tăng giá đất mạnh và đạt đỉnh mới tại 111 USD/m2/chu kỳ thuê, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý I/2021. Về triển vọng thị trường, nguồn cung bất động sản công nghiệp ở phía Nam dự kiến sẽ tăng hơn nữa trong 5 năm tới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và củng cố hơn nữa vị trí dẫn đầu về nguồn cung của khu vực.

Cũng theo JLL, trong quý đầu năm 2021, thị trường đất công nghiệp cho thuê và nhà xưởng xây sẵn miền Bắc không có nguồn cung mới. Tổng diện tích đất công nghiệp cho thuê tại miền Bắc đạt khoảng 9.500 ha, trong khi nguồn cung nhà xưởng xây sẵn ở mức 1,8 triệu m2 sàn. Bắc Ninh và Hải Phòng là hai thị trường có nguồn cung bất động sản công nghiệp dồi dào nhất ở miền Bắc, nhờ vào vị trí chiến lược, hệ sinh thái KCK lâu đời và môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện. Tuy bị ảnh hưởng bởi dịch Covid, tỷ lệ lấp đầy ở khu vực miền Bắc vẫn ổn định. Làn sóng dịch Covid-19 thứ ba ảnh hưởng trực tiếp tới các tỉnh miền Bắc vào cuối tháng 1 đã tác động đến các quyết định đầu tư của một số dự án mới vào khu vực, đặc biệt là việc phong tỏa toàn bộ tỉnh Hải Dương đã dẫn đến sự đình trệ các hoạt động sản xuất công nghiệp ở đây trong quý I/2021. Tuy nhiên, nhờ vào làn sóng FDI vào nửa cuối năm 2020, đặc biệt từ lĩnh vực công nghệ, tỷ lệ lấp đầy của các KCN vẫn được duy trì ở mức 75%, trong khi tỷ lệ lấp đầy của nhà xưởng xây sẵn là ở mức 98%.

Theo bà Nguyễn Hồng Vân, việc ngành sản xuất phục hồi mạnh mẽ dẫn đến khả năng bùng nổ về nhu cầu bất động sản công nghiệp trong tương lai đã thúc đẩy sự leo thang của giá đất công nghiệp. Giá đất đã đạt đỉnh mới, ở mức 107 USD/m2/chu kỳ thuê vào quý I/2021, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, nhà xưởng sản xuất, cho thuê cũng ghi nhận đà tăng ở mức 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Bắc Ninh có mức tăng mạnh mẽ nhất, ở mức 9% nhờ vào sự ra đời của một số nhà xưởng xây sẵn mới có chất lượng cao.

Nhu cầu bất động sản công nghiệp được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng nhờ vào làn sóng các công ty công nghệ rót vốn vào thị trường Việt Nam. Để đón đầu vốn đầu tư nước ngoài, các địa phương đã tích cực thúc đẩy việc mở rộng các KCN, với khoảng 10.500 ha đất đã được quy hoạch thêm. Bên cạnh các tỉnh công nghiệp nổi bật, thì Hưng Yên, Hải Dương hay các tỉnh xa hơn về phía Bắc như Bắc Giang, Vĩnh Phúc đang thu hút nhiều sự chú ý của nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, giá đất ở các khu vực này được dự báo sẽ tiếp tục tăng ở mức 8-10% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Nguyễn Văn Đính – Phó tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Việt nam cho biết, trong quý I/2021, với những thành công việc ngăn chặn dịch bệnh Covid-19, thị trường bất động sản công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cùng kết quả khả quan phát triển kinh tế chung. Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư - sản xuất quốc tế. Do đó, triển vọng phát triển các KCN ở Việt Nam vẫn duy trì tốt. Hiện nay hầu hết những tỉnh thành có khả năng phát triển công nghiệp đều xuất hiện hiện tượng đề xuất phát triển các KCN mới rất sôi động.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.860 23.090 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.890 23.090 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.870 23.090 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.880 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.890 23.070 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.870 23.082 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.831 23.051 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.870 23.050 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.890 23.050 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.150
56.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.150
56.750
Vàng SJC 5c
56.150
56.770
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.150
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.850