Nguồn cung và lượng tiêu thụ căn hộ TP.HCM giảm mạnh nhất từ năm 2015

16:07 | 06/01/2022

Ngày 6/1, báo cáo toàn cảnh thị trường bất động sản nhà ở TP.HCM và vùng phụ cận năm 2021, đại diện Công ty DKRA Việt Nam cho biết nguồn cung và lượng căn hộ tiêu thụ ở TP.HCM trong năm 2021 giảm mạnh nhất và đây là mức thấp nhất  từ năm 2015 đến nay.

Theo DKRA, đối với phân khúc đất nền, năm 2021 thị trường TP.HCM tiếp tục khan hiếm nguồn cung. Toàn thị trường chỉ có 2 dự án mở bán mới cung cấp ra thị trường 98 sản phẩm bằng 17% so với năm 2020.

Đối với phân khúc căn hộ, cả TP.HCM và vùng phụ cận ghi nhận 41 dự án mở bán (khoảng 21.138 căn) trong năm qua. Các dự án tập trung chủ yếu tại TP.HCM và Bình Dương. So với năm 2020, tổng nguồn cung mới bằng 70% (30.042 căn). Lượng tiêu thụ đạt khoảng 17.122 căn, bằng 81% nguồn cung mới và chỉ bằng 65% so với năm trước (26.313 căn). Nguồn cung căn hộ của tỉnh Bình Dương cũng giảm mạnh so với năm 2020. Loại hình căn hộ hạng A vẫn là phân khúc dẫn dắt thị trường TP.HCM và đã xác lập mặt bằng giá mới lên đến gần 400 triệu đồng/m2.

nguon cung va luong tieu thu can ho tphcm giam manh nhat tu nam 2015
Ảnh minh họa

Nguồn cung mới nhà phố/biệt thự khu vực TP.HCM và các tỉnh giáp ranh tăng nhẹ. Trong năm 2021, thị trường đón nhận 9.823 căn mở bán đến từ 55 dự án, tăng 34% so với năm trước (7.339 căn). Tỷ lệ tiêu thụ đạt 57%, tương đương 5.619 căn, tăng 7% so với năm 2020.

Nguồn cung mới tập trung ở Đồng Nai và Bình Dương, trong khi tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục khan hiếm nguồn cung mới.

Riêng tại TP.HCM, nguồn cung và lượng tiêu thụ mới trên thị trường sụt giảm mạnh về mức thấp nhất trong 5 năm qua do ảnh hưởng của dịch bệnh và quy định về giãn cách xã hội.

Phân khúc Bất động sản nghỉ dưỡng có tín hiệu phục hồi tích cực ở loại hình biệt thự nghỉ dưỡng và nhà phố/shophouse nghỉ dưỡng trong khu phức hợp. Cụ thể, nguồn cung biệt thự nghỉ dưỡng trong năm 2021 đạt khoảng 4.115 căn, tỷ lệ tiêu thụ đạt 71% (khoảng 2.925 căn) trên nguồn cung mới. Riêng condotel chứng kiến sự sụt giảm đáng kể về nguồn cung và sức cầu với khoảng 3.792 căn được cung cấp ra thị trường. Tỷ lệ tiêu thụ trên nguồn cung mới chỉ đạt hơn 58% (khoảng 2.211 căn).

Theo dự báo của DKRA, trong năm 2022 nguồn cung mới của phân khúc đất nền có thể tăng so với năm 2021 và tập trung chủ yếu ở những thị trường các tỉnh giáp ranh như Long An, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu.

Đối với phân khúc căn hộ, TP.HCM và Bình Dương là 2 địa phương có thể tăng mạnh nguồn cung này. TP.HCM có thể cung cấp ra thị trường 18.000 căn hộ và Bình Dương có thể cung cấp 10.000 căn hộ.

“Sức cầu của thị trường tăng so với năm 2021, tuy nhiên vẫn còn khá thấp so với giai đoạn trước khi dịch bùng phát (năm 2019); mặt bằng giá sơ cấp có xu hướng tăng so với năm 2021 do chi phí đầu vào tăng mạnh và giao dịch thứ cấp tập trung ở những dự án đã bàn giao với mức giá trên dưới 3 tỷ/căn hộ. Phân khúc hạng A và hạng B tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nguồn cung mở bán và thị trường tiếp tục không có nguồn cung căn hộ hạng C (tầm giá 30 triệu đồng/m2)”, ông Võ Hồng Thắng - Trưởng phòng R&D DKRA Việt Nam cho biết.

Ngọc Hậu

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400