Nhiều “cửa sáng” cho xuất khẩu rau quả

10:38 | 11/06/2021

Các doanh nghiệp cần hướng tới việc đồng bộ quy trình sản xuất, chế biến, đóng gói để đáp ứng nghiêm tiêu chuẩn của từng thị trường và đặc biệt là nâng cao chất lượng của sản phẩm.

nhieu cua sang cho xuat khau rau qua Doanh nghiệp xuất khẩu lao đao, ngân hàng vào cuộc hỗ trợ
nhieu cua sang cho xuat khau rau qua Nâng cao năng lực xuất khẩu cho các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ
nhieu cua sang cho xuat khau rau qua Bắc Giang xuất khẩu lô vải thiều đầu tiên sang thị trường Nhật Bản

Theo thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), trong tháng 5 giá trị xuất khẩu rau quả cả nước đạt 400 triệu USD, tăng 48,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu rau quả đạt khoảng 1,77 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, bên cạnh thị trường chủ lực Trung Quốc, mặt hàng rau quả của nước ta còn đang có nhiều tín hiệu tích cực tại một số thị trường lớn như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Australia… Đơn cử như Việt Nam hiện là thị trường cung cấp xoài lớn thứ 13 cho Hoa Kỳ.

Ông Trần Hoàng Điệp - Tổng giám đốc Công ty TNHH New Green Way Việt Nam cho biết, chỉ riêng tháng 3 đã xuất khẩu 240 tấn cà rốt tươi sang Hàn Quốc, với thị trường Trung Đông kim ngạch xuất khẩu tăng gấp đôi, trước đó vào tháng 1, 2 công ty này hầu như không xuất được hàng đi, tình hình được cải thiện và chuyển biến tích cực từ tháng 3 trở đi.

nhieu cua sang cho xuat khau rau qua
Ảnh minh họa

Ngay cả những địa phương như Bắc Giang, Bắc Ninh và trước đó là Hải Dương dù bị tác động mạnh từ dịch bệnh Covid-19, nhưng hoạt động xuất khẩu, nhất là đối với mặt hàng rau quả, vẫn ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Gần đây nhất, lô vải thiều Thanh Hà (Hải Dương) đầu tiên theo Hiệp định EVFTA đã xuất khẩu đi EU tại sân bay Nội Bài (Hà Nội), mở đường cho các lô vải thiều của Lục Ngạn (Bắc Giang) cũng sẽ được xuất vào thị trường này tuần tới. Thông tin từ Bắc Giang cho biết, hiện nay, trung bình mỗi ngày, hơn 1.000 tấn vải thiều được xuất đi, tính đến đầu tháng 6, gần 9.000 tấn vải thiều đã được xuất khẩu sang Trung Quốc.

Ngoài ra, vải thiều của tỉnh Bắc Giang cũng đang được bảo hộ nhãn hiệu tại 8 quốc gia (Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Singapore, Lào, Campuchia), đặc biệt vải thiều Lục Ngạn – Bắc Giang cũng đã trở thành sản phẩm nông sản đầu tiên của Việt Nam được chính thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Nhật Bản. Điều này là một tín hiệu cho các nông sản Việt được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại nhiều thị trường khác.

Theo đánh giá từ Bộ Công thương, dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong thời gian tới khi các hiệp định thương mại tự do đang dần được thực thi một cách toàn diện hơn, hiệu quả hơn. Giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sẽ là động lực quan trọng để gia tăng giá trị xuất khẩu.

Riêng với hoạt động xuất khẩu rau quả, Bộ Công thương đã yêu cầu các Phòng Quản lý xuất nhập khẩu khu vực Hà Nội, Hải Dương, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Lào Cai căn cứ tình hình thực tế, xem xét bố trí làm thêm giờ, kể cả làm việc vào Thứ Bảy, Chủ nhật và ngày nghỉ để xử lý hồ sơ cấp C/O trong thời gian sớm nhất đối với nông sản xuất khẩu, đặc biệt là nông sản tại các địa phương đang chịu ảnh hưởng của dịch bệnh như Bắc Giang, Hải Dương và các mặt hàng đang vào vụ, có thời gian thu hoạch ngắn như vải.

Mặc dù vậy, theo ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng Thư ký Hiệp hội rau quả Việt Nam (VinaFruit), nhìn về lâu dài vẫn có nhiều thách thức đối với rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, do hạn chế về công nghệ bảo quản nên 62% rau quả xuất khẩu là sang thị trường Trung Quốc, đối với các thị trường xa hơn như EU, Mỹ… vẫn còn khiêm tốn. Ngay kể cả khi doanh nghiệp Việt đang có nhiều ưu thế từ các hiệp định thương mại tự do, nhưng nếu muốn tận dụng được thì phải giải quyết bài toán bảo quản và chế biến.

Đồng tình với quan điểm trên, chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú chỉ ra, phần lớn các mặt hàng rau quả xuất khẩu của Việt Nam là rau quả tươi, đã qua chế biến, đông lạnh chiếm tỷ lệ thấp. Công nghệ chế biến, bảo quản của các doanh nghiệp Việt cũng còn đang hạn chế, chủ yếu là rửa rau quả bằng nước lạnh để loại bỏ vi khuẩn và phun khí ozone để bảo quản. Trong khi đó, các nước đã có nhiều công nghệ mới hơn để có thể tăng vòng đời của sản phẩm lên rất nhiều.

Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu rau quả cũng cho biết, mỗi doanh nghiệp đều có kinh nghiệm bảo quản khác nhau, tùy theo công nghệ của doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay việc bảo quản rau quả còn hạn chế, không được dài ngày, đa phần phải vận chuyển bằng hàng không. Trong khi vận chuyển bằng hàng không vào các nước xa như EU khá đắt, các chuyến bay cũng hạn chế nên doanh nghiệp này cho biết chờ đợi mọi thứ bình thường mới đẩy mạnh mặt hàng rau xuất khẩu.

Bên cạnh đó, giới chuyên gia nhận định, các thị trường lớn, giàu tiềm năng đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp trong nước nhưng cũng đi kèm với yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, quy trình chế biến, đóng gói. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần hướng tới việc đồng bộ quy trình sản xuất, chế biến, đóng gói để đáp ứng nghiêm tiêu chuẩn của từng thị trường và đặc biệt là nâng cao chất lượng của sản phẩm.

Ngoài ra trong bối cảnh dịch bệnh, bản thân doanh nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như khả năng thích ứng để vượt qua khó khăn, chủ động chuyển hướng để nắm bắt hiệu quả những cơ hội từ bối cảnh mới.

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400