Nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế tỉnh Ninh Bình

18:16 | 12/10/2021

Với các chính sách đồng bộ và sự triển khai quyết liệt của ngành Ngân hàng Ninh Bình, tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã tăng trưởng mạnh.

Sáng 12/10, các đồng chí: Nguyễn Thị Thu Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình; Trần Hồng Quảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Phạm Quang Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì hội nghị đối thoại với gần 150 cán bộ, hội viên nông dân đại diện cho nông dân toàn tỉnh. Cùng dự hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đại diện các sở, ban, ngành có liên quan.

Tại buổi đối thoại, cán bộ, hội viên nông dân đã nêu 29 ý kiến trên mọi lĩnh vực của đời sống, như lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; kế hoạch đầu tư; tài chính - ngân hàng; tài nguyên - môi trường; lao động - xã hội; du lịch gắn với nông nghiệp,…

nong nghiep la tru do cua nen kinh te tinh ninh binh
Ảnh minh họa

Liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, đại biểu đặt câu hỏi: Đề nghị ngành Ngân hàng tạo điều kiện cho nông dân, doanh nghiệp tiếp cận và được vay vốn theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ.

Lãnh đạo NHNN tỉnh đã trao đổi với khách hàng: Nghị định 55, sau đó là Nghị định 116/2018 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 55) là một chủ trương lớn của Chính phủ, góp phần thúc đẩy đầu tư tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua một hệ thống chính sách, cơ chế đặc thù.

Đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm các cá nhân và pháp nhân sinh sống trên địa bàn nông thôn và cả thành phố, thị xã nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thúc đẩy tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao thông qua việc quy định các tổ chức đầu mối (doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã) tham gia mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp được tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70-80% giá trị dự án, phương án sản xuất, kinh doanh.

Nâng mức cho vay tối đa không có tài sản bảo đảm của cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn đến 200 triệu đồng, cư trú tại thành phố, thị xã có sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đến 100 triệu đồng. Quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với một số lĩnh vực đặc thù có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp như đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, nuôi trồng, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá,... cao hơn các lĩnh vực khác.

Khuyến khích khách hàng vay vốn tham gia mua bảo hiểm trong nông nghiệp thông qua việc quy định TCTD giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng.

Quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, quy trình xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng hoặc do nguyên nhân khách quan bất khả kháng đối với khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Khuyến khích các TCTD đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua quy định về trích lập dự phòng rủi ro, hỗ trợ nguồn vốn và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại TCTD không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng và lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm.

NHNN tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo cụ thể việc triển khai Nghị định 55; phối hợp với các cấp chính quyền địa phương tổ chức đối thoại giữa ngân hàng và khách hàng để tháo gỡ khó khăn. Chỉ đạo các TCTD nâng cao hiệu quả thẩm định để tăng cường khả năng cho vay không có tài sản bảo đảm, tháo gỡ khó khăn về tài sản bảo đảm cho khách hàng.

Chỉ đạo các TCTD trên địa bàn thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của NHNN Việt Nam và TCTD cấp trên về lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Thực hiện đồng thuận của 16 TCTD về tiếp tục hạ lãi suất để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19... Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là 4,5%/năm đối với các ngân hàng và 5,5% đối với các quỹ tín dụng nhân dân.

Thời hạn cho vay theo quy định, căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh thì TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất.

Đối với các cây trồng, vật nuôi có các chu kỳ sản xuất liền kề trong năm và các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm thì khách hàng và TCTD có thể thỏa thuận áp dụng phương thức cho vay lưu vụ. Theo đó, hết chu kỳ sản xuất đầu tiên khách hàng chỉ phải trả lãi và tiếp tục được sử dụng dư nợ gốc phục vụ chu kỳ sản xuất tiếp theo nhằm tạo điều kiện tối đa cho khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm cũng như chủ động về nguồn vốn cho chu kỳ sản xuất kế tiếp.

Các TCTD đã tích cực cải thiện, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục vay vốn. Đặc biệt, đối với đối tượng vay vốn là hộ nông dân, Agribank và Ngân hàng Chính sách xã hội đã áp dụng hình thức sổ vay vốn; cho vay thông qua các tổ, nhóm của các tổ chức chính trị - xã hội,… nhằm tạo điều kiện tối đã cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất.

Với các chính sách đồng bộ và sự triển khai quyết liệt của ngành Ngân hàng Ninh Bình, tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã tăng trưởng mạnh. Tính đến 30/9/2021, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn của các ngân hàng, TCTD đạt 32.646 tỷ đồng, chiếm 37,7%/tổng dư nợ cho vay, tăng 7,6% so với đầu năm (cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung trên địa bàn là 6,5%). Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới đạt 21.377 tỷ đồng, chiếm 22,8% tổng dư nợ cho vay, tăng 13,9% so với đầu năm. Dư nợ cho vay chính sách đạt 2.808 tỷ đồng (gần 79 ngàn hộ), tăng 7,5% so với 31/12/2020, chiếm 3,1% tổng dư nợ toàn địa bàn.

Ngoài ra, các NHTM trên địa bàn còn cho vay các chương trình khác liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như cho vay kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp, cho vay bình ổn thị trường, cho vay phát triển thủy sản, cho vay máy móc nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp,…

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nhấn mạnh: “Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, gia tăng giá trị sản xuất là mục tiêu chúng ta theo đuổi, nhất là trong bối cảnh ảnh hưởng nghiêm trọng do dịch bệnh COVID-19 hiện nay, nông nghiệp vẫn luôn khẳng định vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế. Vì thế, trụ đỡ này cần phải được gia cố, bồi đắp”.

Đồng chí chỉ đạo cấp ủy, chính quyền, HĐND các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa những vấn đề trao đổi tại hội nghị này thành đường lối, chủ trương, chính sách, cơ chế để tổ chức thực hiện tốt. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các sở, ngành chức năng cần nghiên cứu, có giải pháp hữu hiệu để giải quyết kịp thời, hiệu quả những đề xuất, kiến nghị chính đáng của cán bộ, hội viên nông dân.

Các cấp ủy, chính quyền cần tiếp tục duy trì các cuộc đối thoại; tích cực tham mưu về cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn; lưu ý các giải pháp tổ chức sản xuất cho người nông dân, hướng đến nền nông nghiệp đặc hữu, thông minh, phục vụ du lịch; đẩy mạnh việc hướng dẫn cho nông dân tiếp cận với khoa học công nghệ, chuyển đổi số; chú trọng phát triển làng nghề, các sản phẩm OCOP.

Nguyễn Sỹ Tỉnh - NHNN chi nhánh tỉnh Ninh Bình

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050