Rời thị trường vẫn là bài toán khó với doanh nghiệp nhỏ
Không kinh doanh, nghĩa vụ vẫn có thể tồn đọng
Cuối năm 2019, anh L.H.C. đăng ký thành lập doanh nghiệp tại tỉnh Hà Tĩnh. Công ty chưa kịp đi vào hoạt động thì dịch Covid-19 bùng phát, khiến kế hoạch kinh doanh phải dừng lại. Sau đó, do chuyển sang công việc khác, anh không thực hiện thủ tục tạm ngừng hoặc giải thể.
Gần đây, sau khi nhận được thông báo của cơ quan thuế tại Hà Tĩnh, anh phải khẩn trương rà soát, bổ sung hồ sơ và thực hiện các nghĩa vụ còn tồn đọng.
“Tổng số tiền tôi phải nộp hơn 30 triệu đồng, gồm lệ phí môn bài của các năm trước, tiền chậm nộp và tiền phạt vi phạm hành chính về thuế. Ngoài khoản tiền phải nộp, tôi còn mất nhiều ngày rà soát, bổ sung hồ sơ mới hoàn tất phần thủ tục với cơ quan thuế”, anh C. cho biết.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Trường hợp của anh C. không phải cá biệt. Theo phản ánh của Tuổi Trẻ ngày 18/8/2026, một doanh nghiệp thành lập năm 2009, ngừng kinh doanh từ cuối tháng 11/2012 và không phát sinh doanh thu, hóa đơn hay tiền thuế trong hơn chục năm. Khi được cơ quan thuế mời hoàn tất nghĩa vụ, người đại diện cho biết phải xử lý hơn 40 triệu đồng, gồm lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và tiền phạt liên quan đến việc chậm nộp hồ sơ khai thuế.
Một chủ doanh nghiệp khác tại Hà Nội cho biết công ty đã ngừng hoạt động từ năm 2017. Với lệ phí môn bài 2 triệu đồng mỗi năm trước đây cùng khoản phạt liên quan đến hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, người này ước tính số tiền phải xử lý khoảng 30 triệu đồng.
Những trường hợp trên cho thấy ngừng kinh doanh trên thực tế không đồng nghĩa pháp nhân tự động chấm dứt. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các thủ tục về đăng ký doanh nghiệp, kế toán, khai thuế hoặc thông báo tạm ngừng theo quy định. Nếu người đại diện chỉ dừng bán hàng mà không hoàn tất thủ tục pháp lý, hồ sơ và các nghĩa vụ liên quan có thể tiếp tục tồn đọng.
Khoản 7 Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15 quy định chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026. Tuy nhiên, quy định này không đồng nghĩa các nghĩa vụ phát sinh trước thời điểm đó tự động được xóa. Số tiền phải xử lý của từng doanh nghiệp phụ thuộc thời gian hoạt động, tình trạng kê khai, hóa đơn, chứng từ, nợ thuế và hành vi vi phạm cụ thể; vì vậy không thể lấy một trường hợp làm mức chung.
Theo Công điện số 18/CĐ-CT ngày 13/7/2026 của Cục Thuế, có 617.462 doanh nghiệp thuộc hai nhóm cần tập trung rà soát, xử lý. Trong đó, 291.962 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể; 325.500 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và có nợ thuế. Đây là số đối tượng thuộc diện rà soát, không đồng nghĩa tất cả đều là doanh nghiệp “ma” hoặc có hành vi vi phạm.
Thực tế, nhóm này không đồng nhất. Có doanh nghiệp chưa từng kinh doanh hoặc phải dừng hoạt động do thua lỗ, dịch bệnh, trong khi người đại diện thiếu hiểu biết về nghĩa vụ pháp lý khi rút lui. Ở chiều ngược lại, cơ quan quản lý cũng phải sàng lọc những trường hợp bỏ địa chỉ nhằm né tránh nghĩa vụ, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc lợi dụng pháp nhân để hợp thức hóa giao dịch.
Khó khăn vì thế không chỉ nằm ở số tiền phải nộp. Với doanh nghiệp từng hoạt động trong thời gian dài, việc giải thể có thể đòi hỏi rà soát hóa đơn, chứng từ, chi phí nhân công, bảo hiểm và dòng tiền qua ngân hàng. Khi hồ sơ đã thất lạc hoặc người phụ trách kế toán không còn làm việc, thời gian xử lý dễ kéo dài, kéo theo chi phí tư vấn, đi lại và cơ hội kinh doanh của người đại diện.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Gỡ lối ra nhưng không buông lỏng kỷ cương
Ngày 8/5/2026, Cục Thuế ban hành Quyết định số 595/QĐ-CT, triển khai chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Phạm vi rà soát gồm người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và trường hợp bị giả mạo thông tin để thành lập doanh nghiệp. Mục tiêu vừa xử lý dữ liệu tồn đọng, vừa nhận diện các pháp nhân có dấu hiệu rủi ro.
Đối với doanh nghiệp thực tế đã ngừng hoạt động, không phát sinh doanh thu, hóa đơn và giao dịch, hướng tháo gỡ đang được cơ quan thuế rà soát, tổng hợp để báo cáo cấp có thẩm quyền.
Vướng mắc lớn nhất nằm ở khoảng cách giữa việc doanh nghiệp đã dừng hoạt động trên thực tế và tình trạng pháp lý vẫn còn tồn tại.
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, cho biết có doanh nghiệp, hộ kinh doanh tạm ngừng tới 20 năm nhưng chưa hoàn tất quyết toán và chấm dứt mã số thuế. Việc xử lý lệ phí môn bài của thời kỳ trước và phạt hồ sơ khai thuế không phát sinh nghĩa vụ có thể tạo thêm khó khăn khi người nộp thuế thực hiện thủ tục chấm dứt
Từ thực tế đó, một hướng kiến nghị là nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp đối với khoảng thời gian doanh nghiệp chứng minh được không hoạt động, không phát sinh doanh thu, hóa đơn hoặc số thuế phải nộp; đồng thời cân nhắc mức tiền phạt tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm. Đây là đề xuất nhằm giảm chi phí tuân thủ, không phải chủ trương xóa nghĩa vụ trên diện rộng.
Cho đến khi có quy định mới, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật hiện hành. Những trường hợp còn nợ thuế gốc, che giấu doanh thu, kê khai sai chi phí, mua bán hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp không thuộc nhóm có thể xem xét xử lý đơn giản; các sai phạm phải được kiểm tra và xử lý đầy đủ.
Về chính sách, giải pháp phù hợp là phân luồng hồ sơ theo mức độ rủi ro. Nhóm không hoạt động, không sử dụng hóa đơn, không có dòng tiền và không nợ thuế có thể được nghiên cứu áp dụng quy trình rút gọn, cho phép tự tra cứu nghĩa vụ, theo dõi tiến độ và nhận xác nhận trên môi trường số. Ngược lại, hồ sơ có dấu hiệu mua bán hóa đơn, che giấu doanh thu hoặc trốn thuế phải được kiểm tra chuyên sâu. Cách tiếp cận này vừa giảm tải cho cơ quan thuế, vừa tập trung nguồn lực vào đúng đối tượng rủi ro.
Việc cải thiện quy trình thực thi cũng quan trọng không kém. Tại Công văn số 5947/CT-KTr ngày 17/8/2026, Cục Thuế yêu cầu không tự ý đặt thêm giấy tờ, không để người nộp thuế đi lại nhiều lần mà thiếu hướng dẫn cụ thể; hồ sơ đã hoàn thành nghĩa vụ phải được khẩn trương xác nhận. Động thái chấn chỉnh được đưa ra sau khi cơ quan thuế ghi nhận phản ánh về tình trạng một bộ phận công chức tại một số địa phương gây khó dễ, kéo dài thời gian giải quyết. Việc công khai đường dây nóng vì vậy cần đi kèm cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi rõ ràng.
Tháo gỡ rào cản giải thể không đồng nghĩa nới lỏng kỷ cương. Một quy trình rút lui minh bạch, chi phí hợp lý và dựa trên phân loại rủi ro sẽ góp phần xử lý các mã số thuế tồn đọng, hạn chế pháp nhân “ma” và giúp nguồn lực sớm quay trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh. Quan trọng hơn, khi việc gia nhập và rời thị trường đều thuận lợi, có trách nhiệm, niềm tin vào môi trường đầu tư cũng được củng cố.
Tin liên quan
Tin khác
Xây dựng hệ thống dữ liệu khách hàng ngay từ giai đoạn doanh nghiệp còn nhỏ
Công nghệ có thể thay thế bao nhiêu phần công việc thủ công?
Mở đường vào sâu trong chuỗi giá trị
Khơi thông dư địa thị trường nội địa cho ngành gỗ Việt
Doanh nghiệp cần làm gì để AI giúp cải thiện năng suất?
Chuyển đổi số trong SME nên bắt đầu từ đâu để tránh lãng phí?
Ký quỹ doanh nghiệp - “lá chắn” bảo vệ quyền lợi người lao động
Sức mua tăng, doanh nghiệp bán nhiều có chắc lãi?
Kinh doanh có trách nhiệm để nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp




