Tái cơ cấu nền kinh tế và những bước tiến thực chất

08:05 | 12/01/2021

Nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế thời gian qua mới chủ yếu là làm sạch các hậu quả để lại cho giai đoạn phát triển trước đó. Bước sang giai đoạn mới 2021-2025, tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng cần phải nhanh hơn và phải có sự bứt phá.

tai co cau nen kinh te va nhung buoc tien thuc chat Tái cơ cấu và xử lý nợ xấu: Thành quả nhiều, khó khăn không ít
tai co cau nen kinh te va nhung buoc tien thuc chat Thủ tướng: Hệ thống tín dụng cần thực hiện nhiệm vụ kép rất đặc thù
tai co cau nen kinh te va nhung buoc tien thuc chat Tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả

Cơ bản hoàn thành tái cơ cấu các TCTD

Năm 2020 là năm cuối cùng trong giai đoạn 5 năm 2016-2020 triển khai nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Đánh giá lại kết quả thực hiện tái cơ cấu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, bối cảnh kinh tế trong năm 2020 có rất nhiều biến động bất lợi, đặc biệt là đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến việc hoàn thành một số mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Cụ thể như hai mục tiêu về bội chi NSNN và tỷ lệ nợ xấu của TCTD năm 2019 đã hoàn thành, nhưng do tác động của đại dịch Covid-19 nên có khả năng không hoàn thành trong năm 2020.

Nhìn lại 5 năm, soi lại 23 mục tiêu lớn về tái cơ cấu đặt ra trong Nghị quyết 27/NQ-CP/2017 của Chính phủ về các nhiệm vụ tái cơ cấu thì, đã hoàn thành 16 mục tiêu. Trong số 70 mục tiêu cụ thể đã hoàn thành 50 mục tiêu. Về 3 trọng tâm của tái cơ cấu là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tái cơ cấu DNNN và tái cơ cấu đầu tư công đã được đẩy mạnh và có những bước tiến thực chất. Trong đó, mục tiêu cơ cấu lại các TCTD đã cơ bản hoàn thành.

tai co cau nen kinh te va nhung buoc tien thuc chat
Năng lực tài chính, trình độ quản trị của các ngân hàng đã tiếp cận chuẩn Basel II

Theo đó hiện các ngân hàng cơ bản đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định áp dụng tiêu chuẩn Basel II tại Việt Nam. Tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo trong hệ thống TCTD đã được xử lý cơ bản; tình trạng thao túng, chi phối ngân hàng được kiểm soát. Hệ thống TCTD đã được củng cố, nâng cao hơn năng lực quản trị; xử lý nợ xấu tại các TCTD đã được đẩy nhanh thực hiện một cách thực chất, hiệu quả hơn…

Về tái cơ cấu đầu tư công, hiện kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả đầu tư công được nâng cao; cơ cấu đầu tư chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng đầu tư của nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội; tỷ trọng đầu tư ngoài nhà nước tăng dần. Với tái cơ cấu DNNN, tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn đã được đẩy mạnh so với giai đoạn trước và được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường; tỷ lệ DNNN có lãi tăng, một số DNNN yếu kém đã trở lại hoạt động…

Tuy nhiên việc triển khai cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 vẫn còn một số hạn chế, như: Mô hình tăng trưởng có thay đổi nhưng còn chậm; Tốc độ tăng năng suất lao động nội ngành chưa cao; Đóng góp của tiến bộ khoa học công nghệ vào tăng năng suất lao động còn hạn chế; Chuyển dịch cơ cấu nội ngành chưa rõ nét, chưa bền vững; Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn chủ yếu đang hoạt động ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị, nơi tạo ra giá trị gia tăng thấp; Trong khi đó, khu vực dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực DNNN chưa được cải thiện đáng kể…

Những yếu kém nội tại này càng bộc lộ trầm trọng hơn khi bùng phát đại dịch Covid-19, nhất là trong bối cảnh ngày càng có nhiều dự báo cho thấy kinh tế thế giới sẽ có nhiều biến đổi sâu sắc và chuyển sang trạng thái mới, trật tự mới thời kỳ hậu Covid-19. Cũng chưa hài lòng với những gì đạt được trong 5 năm qua. TS. Cao Viết Sinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói rằng, nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế thời gian qua mới chủ yếu là làm sạch các hậu quả để lại của giai đoạn phát triển trước đó.

Tái cơ cấu nền kinh tế và biến số Covid-19

Quá trình vận động của nền kinh tế hiện tại và trong tương lai phải đối mặt với nhiều rủi ro và trở nên bất định hơn bao giờ hết do sự xuất hiện của Covid-19. Trong bối cảnh đó, để đưa đất nước tiến lên nấc thang mới của quá trình phát triển, không có con đường nào khác là tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn 2021-2025 cần được đẩy nhanh hơn và phải thực sự bứt phá để đưa đất nước trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, tốc độ tăng năng suất lao động ít nhất phải đạt 6,5% hàng năm, cao hơn so với kết quả đạt được giai đoạn 2016-2020 là 5,8%.

Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư việc cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới cần tập trung 5 vấn đề: Thứ nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực công đi đôi với phát triển đồng bộ các yếu tố, các loại thị trường. Thứ hai, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tận dụng khai thác cơ hội của công nghệ số. Thứ ba, xác định rõ ràng hơn các trọng tâm, trọng điểm cơ cấu lại nền kinh tế theo ngành, vùng, nhóm địa phương để tận dụng được lợi thế và tập trung nguồn lực, tạo đột phá ở một số lĩnh vực có tiềm năng. Thứ tư, khắc phục sự thiếu kết nối, thiếu bổ sung hợp lý giữa các thành phần, các địa bàn kinh tế; tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và chủ động dần nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị. Thứ năm, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, tăng cường nội lực, khả năng chống chịu với những cú sốc bên ngoài.

Đồng tình với quan điểm này, TS. Cao Viết Sinh cho rằng, thách thức của việc tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 này không chỉ là khắc phục triệt để những hạn chế, tồn tại từ mô hình tăng trưởng trước đây mà còn phải đề xuất con đường mới. Vì vậy cần xác định rõ những tác động có thể xảy đến để đưa ra những kiến giải cho việc cơ cấu lại nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Linh Đan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.923 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.972 23.184 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.966 23.166 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.830
55.250
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.830
55.230
Vàng SJC 5c
54.830
55.250
Vàng nhẫn 9999
51.250
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550