Tăng vốn ngân hàng: Căn chỉnh điều kiện thực tế

10:48 | 10/05/2022

Diễn biến Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) của hàng loạt ngân hàng vừa qua cho thấy, mục tiêu tăng vốn vẫn là một nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch kinh doanh năm nay của nhiều ngân hàng. Liệu tăng vốn có trở thành làn sóng mạnh mẽ năm nay hay không? Thời báo Ngân hàng đã có trao đổi nhanh với TS. Châu Đình Linh xung quanh câu chuyện này.

tang von ngan hang can chinh dieu kien thuc te Ngân hàng lên kế hoạch tăng vốn điều lệ
tang von ngan hang can chinh dieu kien thuc te Áp lực tăng vốn vẫn hiện hữu
tang von ngan hang can chinh dieu kien thuc te
TS. Châu Đình Linh

Ông đánh giá thế nào về kế hoạch tăng vốn của các ngân hàng?

Quan sát trên thị trường, phương án tăng vốn của nhiều ngân hàng cũng có những sự khác biệt. Có ngân hàng lên kế hoạch tăng vốn bằng nguồn lợi nhuận giữ lại (thông qua chia cổ tức), phát hành ESOP, hay tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược, chào bán thêm cổ phiếu…

Theo quan điểm của tôi, nếu ngân hàng tăng vốn từ nguồn lợi nhuận giữ lại, hay phát hành ESOP… thì hoàn toàn khả thi trong năm nay, bởi đây gần như là nguồn có sẵn, ngân hàng có thể chủ động được. Ngược lại, với phương án phát hành mới thì sẽ cần cân nhắc một chút. Thanh khoản thị trường chứng khoán hiện không quá thuận lợi. Hiện tại, chưa thể khẳng định xu hướng của thị trường có down-trend hay không, nhưng thực tế là đã trượt ra khỏi xu hướng tăng và tích luỹ, gây khó khăn ít nhiều cho ngân hàng khi muốn huy động nguồn lực để tăng vốn. Ngoài ra, thị trường có thể chịu tác động từ các yếu tố của nền kinh tế vĩ mô thế giới, Việt Nam và những thách thức mà ngành tài chính - ngân hàng phải đối diện tới đây.

Chưa kể, ở thời điểm hiện nay khi lạm phát gia tăng; ảnh hưởng từ việc Fed nâng lãi suất cơ bản thêm 0,5 điểm phần trăm để ứng phó với tỷ lệ lạm phát cao, lãi suất huy động xu hướng tăng, sức ép thanh khoản… khiến một lượng vốn từ thị trường vốn chuyển sang thị trường tiền tệ.

Bởi vậy tôi cho rằng, việc tăng vốn sẽ thuận lợi hơn ở những ngân hàng có quy mô lớn, còn với ngân hàng quy mô nhỏ thì khá thử thách.

Dù xác định nhiều thách thức, nhưng thực tế là nhiều ngân hàng đặt ra kế hoạch tăng vốn trong năm nay?

Không phủ nhận là câu chuyện tăng vốn luôn luôn và ngày càng cấp thiết. Một số ngân hàng cần tăng vốn để đáp ứng tiêu chuẩn Basel II, điều này nằm trong lộ trình và chắc chắn phải thực hiện. Tăng vốn cũng sẽ nâng cao khả năng tài chính của ngân hàng, từ đó mới hiện thực hoá được các chiến lược kinh doanh đề ra. Song, kế hoạch và chiến lược của ngân hàng phải xuất phát từ nguồn lực, và chịu sự chi phối bởi các yếu tố tác động bên ngoài.

Tăng vốn có thể thực hiện được, nhưng có như kỳ vọng ban đầu của ngân hàng hay không thì lại là câu chuyện khác. Như tôi đã trao đổi, phụ thuộc vào giá cổ phiếu và khả năng hấp thụ vốn trên thị trường chứng khoán, giá trị cổ phiếu có bị pha loãng hay không là bài toán ngân hàng phải cân nhắc. Nhìn chung, tôi vẫn cho rằng huy động vốn trên thị trường sơ cấp sẽ khó khăn hơn. Đặt trong kịch bản bình thường, các ngân hàng, nhất là ngân hàng lớn có sức mạnh thương hiệu, có cổ đông chiến lược nước ngoài… thì vẫn có thể hiện thực hoá được. Nhưng ở một kịch bản khác, khi có những yếu tố tiêu cực trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều thì tôi cho rằng kế hoạch cũng cần có sự điều chỉnh linh hoạt phù hợp với tình hình thực tiễn.

Theo ông, việc tăng vốn từ cổ đông chiến lược nước ngoài có khả thi trong giai đoạn này không?

Chúng ta đã ký kết Hiệp định EVFTA, trong đó có lộ trình về việc nới room cho các nhà đầu tư ngoại, cam kết cho phép hai TCTD châu Âu được phép sở hữu tới 49% vốn điều lệ của hai ngân hàng Việt Nam (5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực - 1/8/2020). Chắc chắn chúng ta phải thực hiện tiến trình này. Còn thời điểm nào thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Nhà đầu tư ngoại sẽ nhìn nhận gì về triển vọng kinh doanh của ngân hàng đó, giá trị thật sự của ngân hàng phản ánh qua giá cổ phiếu có phải là cái giá tiềm năng hay không, tổng thể chất lượng quản trị của ngân hàng, chất lượng tài chính… Tất cả những yếu tố đã phải được đánh giá rõ ràng, nếu phù hợp thì lúc đó họ mới xuống tiền đầu tư. Và những nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thì phần nhiều đều hướng tới câu chuyện đầu tư dài hạn, nên việc nới thêm room cho nhà đầu tư nước ngoài cũng là một trong những phương án để nâng cao năng lực tài chính cho ngân hàng. Tuy nhiên cần nhìn nhận từ nhiều bên: phía ngân hàng, nhà đầu tư chiến lược, điều kiện của thị trường chứng khoán…

Xin cảm ơn ông!

Khuê Nguyễn thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700