Thực phẩm, xăng dầu đẩy CPI tháng Bảy tăng mạnh

11:46 | 29/07/2021

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2021 tăng 0,62%, mức tăng cao nhất kể từ tháng 3/2021, theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố. So với cùng kỳ năm trước CPI tháng Bảy tăng 2,64%.     

Đề cập đến mức tăng cao kể trên, Tổng cục Thống kê cho biết nguyên nhân chính là do giá lương thực, thực phẩm tăng tại một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội phòng để chống dịch Covid-19, người dân có tâm lý lo ngại thiếu hàng hóa đã tăng tích trữ nhiều hơn nhu cầu thường ngày; đồng thời còn do giá xăng dầu, giá gas tăng theo giá nhiên liệu thế giới và giá điện sinh hoạt tăng theo nhu cầu sử dụng trong mùa nắng nóng.

thuc pham xang dau day cpi thang bay tang manh

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, đóng góp vào mức tăng của CPI tháng 7 có 7 nhóm tăng giá so với tháng trước, trong khi 3 nhóm giảm giá giúp kiềm chế đà tăng, riêng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giữ giá ổn định.

Trong 7 nhóm hàng tăng giá kể trên, nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 2,36%, do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,88% do giá sắt thép, xi măng... ở mức cao.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống với trọng số lớn nhất trong rổ hàng hóa tính CPI cũng tăng mạnh 0,67% do nhu cầu tích trữ hàng hóa của người dân tại một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội tăng đột biến.

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng đồ uống giải khát trong mùa hè tăng cao cùng với giá thuốc lá tăng do nguồn cung giảm.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% chủ yếu do giá xà phòng và các chất tẩy rửa tăng khi nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa dịch.

Nhóm giáo dục tăng 0,03% do giá văn phòng phẩm tăng 0,25%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%, trong đó giá thuốc các loại tăng 0,12%.

Trong 3 nhóm hàng giảm giá, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 giảm 0,1% so với tháng trước.

Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05% so với tháng trước do giá điện thoại di động giảm 0,12% và phụ kiện điện thoại thông minh, máy tính bảng giảm 1,77%.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,03% do nhu cầu tiêu dùng giảm khi các địa phương thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch Covid-19.

Tuy nhiên, CPI bình quân 7 tháng năm 2021 chỉ tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất của 7 tháng đầu năm kể từ năm 2016.

Về nguyên nhân, theo Tổng cục Thống kê, trong 7 tháng đầu năm, giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 12 đợt. So với cùng kỳ năm trước, giá xăng dầu trong nước bình quân 7 tháng năm nay tăng 20,36%, làm CPI chung tăng 0,73 điểm phần trăm.

Ngoài ra còn có các lý do như giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá dịch vụ giáo dục 7 tháng tăng 4,46% so với cùng kỳ năm trước, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 7 tháng năm 2021 tăng 6,83% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở 7 tháng năm nay tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, góp phần làm CPI chung tăng.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, có một số nguyên nhân làm giảm CPI 7 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước như: giá các mặt hàng thực phẩm 7 tháng giảm; Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19; ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến người dân hạn chế đi lại...

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.641 22.861 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.660 22.875 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.150
Vàng SJC 5c
56.500
57.170
Vàng nhẫn 9999
50.550
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.150
51.150