Tín hiệu tích cực từ xuất khẩu cao su

09:06 | 12/05/2021

Cao su là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhất trong số các mặt hàng nông - lâm - thủy sản 4 tháng đầu năm 2021

Ông Võ Hoàng An - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, từ đầu năm 2021 đến nay, giá cao su thiên nhiên (CSTN) bình quân trên thế giới nhìn chung tăng mỗi tháng, chủ yếu do kinh tế Trung Quốc phục hồi khá nhanh; cùng với đó là việc tăng tốc phủ sóng tiêm vắc xin toàn cầu và tác động của các gói kích thích kinh tế của Mỹ và các nước châu Âu trong bối cảnh nguồn cung CSTN hạn hẹp.

Ngoài ra, Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, thường gia tăng thu mua CSTN vào những tháng trước khi bắt đầu mùa nghỉ cạo (thường là sau Tết Nguyên đán kéo dài đến đầu tháng 4 hàng năm) để dự trữ nguồn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất. Nhưng 2 năm nay, điều này không thể thực hiện được do Covid-19. Đó cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy giá cao su tăng cao trong những tháng cuối năm 2020 và đầu năm 2021. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, vì vậy, các chính sách và sức khỏe nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này ảnh hưởng rất lớn đến thị trường CSTN toàn cầu, không chỉ riêng Việt Nam.

tin hieu tich cuc tu xuat khau cao su
Cao su là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhất trong số các mặt hàng nông - lâm - thủy sản 4 tháng đầu năm 2021

Theo số liệu của Bộ Công thương, xuất khẩu cao su trong 4 tháng đầu năm 2021 tăng tới 79,6% về lượng và tăng 111,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, đạt 486 nghìn tấn, trị giá 817 triệu USD. Đặc biệt, cao su là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhất trong số các mặt hàng nông - lâm - thủy sản 4 tháng đầu năm 2021. Còn theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải Quan, năm 2020, tổng lượng xuất khẩu CSTN sang thị trường Trung Quốc ước đạt 1,36 triệu tấn, chiếm 77,9% tổng lượng xuất khẩu (số liệu được cập nhật mới nhất vào ngày 22/4/2021). Riêng quý I/2021, Trung Quốc vẫn là thị trường Việt Nam xuất khẩu cao su nhiều nhất với lượng ước đạt 290.159 tấn, chiếm 71,38% tổng lượng xuất khẩu.

Ông Võ Hoàng An cho biết, để giảm tối đa việc phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, trong những năm gần đây, ngành cao su Việt Nam đã và đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, hướng đến những thị trường “khó tính” hơn như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tại các quốc gia này, đơn hàng từ các thị trường này trong năm 2020 và đầu năm 2021 rất hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu CSTN lại liên tục tăng cao tại Trung Quốc nhờ các biện pháp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả từ rất sớm.

Theo báo cáo cập nhật của Hiệp hội Các nước sản xuất CSTN (ANRPC) tháng 2/2021, sản lượng CSTN năm 2021 dự kiến đạt 13,799 triệu tấn, tăng 6,4% so với dự báo 13,653 triệu tấn của tháng 1; trong khi đó, tiêu thụ CSTN năm nay được dự báo đạt 13,600 triệu tấn, tăng 5,3% so với dự báo trước đó. Năm 2021, theo dự báo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Trung Quốc có khả năng sẽ giảm nhập khẩu cao su do lượng lớn đã được thu mua trong quý III và IV/2020. Thị trường Ấn Độ được kỳ vọng sẽ có sự tăng trưởng tích cực khi ngành công nghiệp ô tô của nước này dự kiến sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm tài khóa 2021/2022.

Theo Tổ chức Nghiên cứu Cao su quốc tế (IRSG), nhu cầu cao su thế giới sẽ phải đối mặt với các thách thức về mức độ phục hồi kinh tế và triển khai tiêm chủng vắc-xin không đồng đều giữa các khu vực trên thế giới. IRSG dự báo mức tăng tiêu thụ toàn cầu đối với CSTN và cao su tổng hợp trong năm 2021 sẽ lần lượt là 7% và 7,2%. Doanh số phương tiện giao thông và lốp xe sẽ tiếp tục có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển ngắn hạn của toàn ngành, trong khi đó, tăng trưởng từ các ngành sản phẩm ngoài lốp xe được kỳ vọng tăng cao nhờ nhu cầu về sản xuất găng tay và các thiết bị y tế phục vụ cho trạng thái “bình thường mới”. Ngoài ra, trong báo cáo cập nhật tháng 4/2021, Ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra dự báo giá cao su RSS 3 (SICOM) trung bình cho cả năm 2021 là 2.250 USD/tấn, sau đó phục hồi dần lên khoảng 2.260 - 2.280 USD/tấn trong giai đoạn 2022 – 2030, và đạt khoảng mức 2.300 USD/tấn vào năm 2035.

Ông Võ Hoàng An nhận định, trong ngắn hạn, thị trường cao su có những yếu tố cơ bản thuận lợi giúp giá cao su phục hồi trở lại sau khi điều chỉnh ít nhất cho đến quý II/2021, tuy nhiên vẫn phụ thuộc vào tình hình kiểm soát dịch bệnh Covid-19.

Diệu Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.930 23.130 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.903 23.123 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.895 23.105 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.930 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.930 23.145 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.905 23.125 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.000
Vàng SJC 5c
56.450
57.020
Vàng nhẫn 9999
51.600
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.200
51.900