Tỷ giá hạ nhiệt sau tín hiệu điều hành

09:04 | 25/03/2020

Lúc 11h, ngày 24/3, Sở Giao dịch NHNN đã hạ mạnh giá bán ra USD tới 258 đồng xuống còn 23.650 đồng; trong khi giá mua được giữ nguyên ở mức 23.175 đồng. Theo các chuyên gia ngân hàng, động thái này là một tín hiệu mạnh mẽ của nhà điều hành cho thấy sẵn sàng can thiệp bằng cách bán ngoại tệ với tỷ giá thấp hơn tỷ giá niêm yết hiện nay để ổn định thị trường ngoại tệ.

Ngân hàng Nhà nước giảm mạnh giá bán USD
NHNN sẵn sàng can thiệp thị trường ngoại tệ khi cần thiết
NHNN có đủ nguồn lực để ổn định tỷ giá

Thời gian gần đây đồng USD trên thị trường thế giới tăng giá rất nhanh, bất chấp việc Fed đã có hai lần cắt giảm mạnh lãi suất và triển khai gói nới lỏng định lượng mới để hỗ trợ nền kinh tế nước này chống lại những tác động tiêu cực dịch Covid-19.

Theo các chuyên gia, sự tăng giá của đồng USD xuất phát từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, không chỉ Fed mà hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới đều cắt giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục để hỗ trợ nền kinh tế của mình chống chọi lại dịch bệnh. Điều đó đã “trung hòa” tác động giảm lãi suất của Fed. Thậm chí tại nhiều nền kinh tế lớn, lãi suất còn ở dưới mức 0% (lãi suất âm) khá sâu, khiến cho việc lãi suất đồng đô dù đang ở sát ngưỡng 0% vẫn còn cao hơn đáng kể.

Ảnh minh họa

Thứ hai và quan trọng hơn là dịch bệnh khiến các nhà đầu tư lo ngại, đẩy mạnh mua vào đồng USD để trú ẩn, trong khi nguồn cung đồng USD bên ngoài Mỹ lại bị hạn chế. Cũng vì lẽ đó, cuối tuần trước Fed đã mở rộng giao dịch hoán đổi đồng USD với thêm 9 ngân hàng trung ương nữa. Mặc dù động thái có kéo đồng bạc xanh quay đầu giảm, song mức giảm là khá nhẹ và hiện chỉ số đồng USD vẫn trụ vững trên ngưỡng 100 điểm, đạt 101,5 điểm. Thậm chí theo các nhà phân tích ngoại hối quốc tế, chỉ số USD có thể kiểm tra ngưỡng 105 điểm trong ngắn hạn.

Sự tăng giá của đồng USD trên thị trường thế giới, cộng thêm yếu tố tâm lý đã khiến tỷ giá trong nước cũng tăng trong thời gian qua cho dù cung – cầu ngoại tệ trong nền kinh tế không có biến động lớn, thậm chí nguồn cung ngoại tệ hiện vẫn rất dồi dào. Trả lời phỏng vấn báo giới gần đây, ông Phạm Thanh Hà – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cũng khẳng định, cân đối cung cầu ngoại tệ đến nay về cơ bản không có biến động lớn. Cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư 1,82 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm 2020 và tiếp tục thặng dư 880 triệu USD trong tháng 3/2020. “Trạng thái ngoại tệ vẫn tiếp tục duy trì ở mức dương. Các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của khách hàng đều được TCTD đáp ứng đầy đủ”, ông Hà khẳng định.

Nguồn cung ngoại tệ dồi dào khiến trong năm 2019 và những tháng đầu năm 2020, NHNN đã liên tục mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước, góp phần củng cố an ninh tài chính tiền tệ quốc gia và tăng khả năng can thiệp thị trường ngoại tệ khi cần thiết. “Với tiềm lực ngoại tệ sẵn có như vậy, NHNN sẵn sàng can thiệp thị trường khi cần thiết tại mức tỷ giá bán can thiệp thấp hơn tỷ giá niêm yết hiện nay với quy mô lớn, dưới hình thức giao ngay và kỳ hạn (nếu cần) để bình ổn thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Động thái giảm mạnh giá bán ra USD của Sở Giao dịch NHNN chính là một tín hiệu mạnh mẽ thể hiện ổn định thị trường ngoại tệ của cơ quan quản lý. Động thái này ngay lập tức đã phát huy tác dụng, kéo tỷ giá trên thị trường hạ nhiệt rất nhanh.

Nếu như sáng nay, giá mua vào ngoại tệ của các ngân hàng phổ biến trong khoảng 23.560 - 23.570 đồng/USD và giá bán ra trong khoảng 23.730 – 23.750 đồng/USD. Tuy nhiên sau tín hiệu điều hành của NHNN, các ngân hàng lập tức giảm mạnh giá mua – bán USD tới 90 - 100 đồng mỗi chiều, đưa giá bán ra USD về ngang bằng với giá bán của Sở Giao dịch NHNN.

Đơn cử hiện giá mua – bán đồng bạc xanh của Vietcombank đang được niêm yết ở mức 23.460 – 23.650 đồng/USD, giảm 100 đồng/USD cả ở chiều mua và bán so với sáng nay. Trong khi BIDV cũng giảm giá mua bán USD 90 đồng xuống còn 23.500 – 23.660 đồng/USD…

Cũng theo ông Phạm Thanh Hà, NHNN sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước, dự phòng các kịch bản có thể xảy ra, điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, phù hợp, tiếp tục sử dụng đồng bộ các biện pháp và công cụ CSTT để ổn định thị trường ngoại tệ.

Nhiều chuyên gia cũng nhận định, hiện nguồn cung ngoại tệ trong nền kinh tế đang rất dồi dào, nguồn lực dự trữ ngoại hối tăng cao, trong khi niềm tin vào VND tăng cao; cộng thêm sự điều hành chính sách tỷ giá chủ động linh hoạt của NHNN, thị trường ngoại hối, tỷ giá sẽ đi theo đúng kịch bản của nhà điều hành.

Anh Thư

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.400 23.610 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.430 23.610 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.411 23.601 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.418 23.630 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.418 23.618 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.430 23.600 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.460 23.600 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.050
Vàng SJC 5c
47.200
48.050
Vàng nhẫn 9999
44.800
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.400