Tỷ giá sáng 13/9: Tỷ giá trung tâm giảm phiên thứ ba liên tiếp

09:17 | 13/09/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (13/9), trong khi tỷ giá trung tâm có phiên giảm thứ ba liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep Điểm lại thông tin kinh tế ngày 12/9
ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep Tỷ giá sáng 12/9: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.244 đồng, giảm 9 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ ba liên tiếp với tổng mức giảm là 35 đồng.

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep

Sáng nay, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn giữ nguyên giá mua - bán USD. Hiện, giá bán ra đang ở 23.700 đồng/USD; giá mua vào vẫn tạm để trống.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.360 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.430 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.630 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.900 VND/USD.

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 108,246 điểm, giảm 0,057 điểm (-0,05%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh giảm trước thời điểm dữ liệu lạm phát tháng Tám của Mỹ được công bố, với các nhà đầu tư đang kỳ vọng có thể có một số dấu hiệu hạ nhiệt, trong khi euro tăng sau những bình luận diều hâu hơn từ các nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) rằng lãi suất sẽ cần phải tăng thêm.

Sáng nay, euro tăng nhẹ 0,07% lên 1,0129 USD, sau khi chạm mức cao nhất gần một tháng trong phiên trước đó.

Tương tự, bảng Anh cũng tăng nhẹ lên 1,1685 USD, sau khi tăng 0,86% ở phiên trước - mức tăng hàng ngày lớn nhất trong vòng một tháng.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám của Mỹ sẽ được công bố hôm nay. Các chuyên gia đang có sự đồng thuận rằng lạm phát lõi có thể tăng 0,3% so với tháng trước, giống như trong tháng Bảy.

Mức tăng của bạc xanh gần đây đã chậm lại do kỳ vọng của thị trường rằng lạm phát đã đạt đỉnh, đồng nghĩa với việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể sẽ tăng lãi suất ít mạnh mẽ hơn.

Cuộc khảo sát niềm tin tiêu dùng hàng tháng của Fed tại New York công bố hôm thứ Hai cho thấy, kỳ vọng lạm phát của người tiêu dùng Mỹ đã giảm thêm trong tháng Tám, sau khi giá xăng dầu hạ nhiệt.

"Số liệu CPI sẽ thực sự quan trọng đối với Fed... có lẽ phải cần một sự tăng tốc CPI mạnh mẽ hơn dự đoán để có thể thúc đẩy Fed tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản", Kristina Clifton, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Commonwealth Bank of Australia nói và thêm rằng: "Nếu số liệu đúng như mọi người mong đợi, chúng tôi cho rằng Fed sẽ tăng lãi suất 50 điểm cơ bản".

Tuy nhiên, các quỹ tương lai đầu tư theo chính sách của Fed vẫn dự báo xác suất 91% khả năng lãi suất sẽ tăng 75 điểm cơ bản tại cuộc họp của Fed vào tuần tới.

Euro đang tạm ổn định trên mức ngang giá so với đô la Mỹ nhờ những phát biểu diều hâu từ quan chức ECB. Tuần trước, nguồn tin thân thuộc với vấn đề này cho biết lãi suất chuẩn của châu Âu có thể tăng lên 2% hoặc cao hơn.

Các quan chức của ECB cũng nhắc lại quan điểm rằng cần tiếp tục tăng lãi suất và nó sẽ phụ thuộc vào dữ liệu sắp tới. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng châu Âu có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ suy thoái mạnh.

"Chúng tôi dự đoán euro sẽ giảm xuống dưới mức ngang giá so với bạc xanh và duy trì ở đó trong một thời gian khá dài, đặc biệt là khi tất cả những vấn đề liên quan đến thiếu hụt nguồn cung năng lượng ở châu Âu vẫn chưa được giải quyết", Clifton nhận định.

So với yên Nhật, bạc xanh sáng nay đã giảm 0,14% xuống 142,64 JPY/USD, trong khi sự can thiệp từ các quan chức Nhật Bản hỗ trợ rất ít cho đồng tiền vốn vẫn đang trong xu hướng giảm giá của nước này.

Tâm lý ưa rủi ro gia tăng trên diện rộng đã nâng đô la Úc và New Zealand tăng ở phiên trước. Tuy nhiên sáng nay, hai đồng tiền này biến động nhẹ trong lúc chờ đợi dữ liệu CPI của Mỹ được công bố.

Đô la Úc sáng nay giảm nhẹ xuống 0,6883 USD, trong khi đô la New Zealand tăng nhẹ lên 0,6140 USD.

ty gia sang 139 ty gia trung tam giam phien thu ba lien tiep

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450