Việt Nam đẩy mạnh sản xuất theo chuỗi giá trị

09:34 | 25/12/2021

Nền kinh tế Việt Nam trong 20 năm qua đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ cả về kim ngạch lẫn cơ cấu ngành. Từ một nền kinh tế với các ngành công nghiệp thâm dụng lao động, Việt Nam đang tiếp tục chuyển đổi sang các ngành công nghiệp có giá trị cao.

viet nam day manh san xuat theo chuoi gia tri Kiến tạo các động lực phục hồi kinh tế
viet nam day manh san xuat theo chuoi gia tri Việt Nam sẽ “viết tiếp câu chuyện tăng trưởng”
viet nam day manh san xuat theo chuoi gia tri
Ảnh minh họa

Xu hướng phát triển theo chuỗi giá trị

Các chỉ số xuất khẩu của Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bất chấp tình hình dịch bệnh. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 212,55 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ năm ngoái là 80 tỷ USD.

Trong đó, điện thoại và linh kiện có mức tăng trưởng 13%, đây cũng là nhóm ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất chiếm 16,8%, đạt 35,7 tỷ USD. Theo báo cáo của Savills, nhóm ngành này đang dẫn đầu về mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam từ năm 2016 đến tháng 8/2021.

Xét về tốc độ tăng trưởng, nhóm ngành điện tử, máy tính và linh kiện vẫn duy trì được đà tăng trưởng từ năm ngoái, đạt mức 15,8%, tương ứng với 31,3 tỷ USD. Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu của nhóm ngành này ghi nhận sự bứt phá khi vượt qua hàng dệt may từ năm 2019 đến nay.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu của dệt may và giày dép chiếm tỉ trọng nhỏ hơn so với cùng kỳ năm ngoái, lần lượt ở mức 10% và 6%. Có thể thấy, sau điện thoại và linh kiện, nhóm ngành xuất khẩu chủ lực đang chuyển dần từ mặt hàng giá trị gia tăng thấp như quần áo và giày dép sang những sản phẩm mang lại giá trị cao hơn như điện tử và linh kiện. Nói cách khác, tỷ trọng sản xuất - xuất khẩu của Việt Nam cho thấy sự thay đổi về định hướng của ngành công nghiệp.

Xét về vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, ngành sản xuất và chế tạo đang ghi nhận giá trị năm 2021 chiếm 53,4% tổng vốn, tăng 16,45% so với cùng kỳ. Cụ thể, lượng vốn đầu tư FDI đạt 11,83 tỷ USD với 402 dự án mới được phê duyệt.

Theo chuyên gia từ Savills, xét về bức tranh FDI của ngành trong vòng một thập kỷ vừa qua, Việt Nam đang phát triển theo một chuỗi giá trị. Trong đó, ngành thiết bị điện tử chiếm tỷ trong cao nhất ở mức 19,29% tổng vốn. Tiếp theo sau là điện tử và máy tính với 17,14%. Giấy, nhựa và cao su lần lượt chiếm 14,66% và 13,54%. Trong khi đó, các mặt hàng dệt may, may mặc và thực phẩm chỉ ghi nhận vốn đầu tư dưới 4% cho mỗi ngành.

Lý giải cho sự chuyển dịch này, ông John Campbell, Quản lý bộ phận Bất động sản Công nghiệp Savills Việt Nam cho biết: “Trong 20 năm qua, nhờ tốc độ tăng trưởng ổn định, nền kinh tế đi theo hướng xuất khẩu, sự gia tăng của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), lực lượng lao động trẻ, các chính sách ưu đãi đầu tư cùng với vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất thu hút được sự chú ý nhiều nhất trong khu vực châu Á”.

“Bất chấp một năm 2021 đầy thách thức, Việt Nam vẫn đang tiếp tục chuyển đổi từ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động sang các ngành công nghiệp có giá trị cao. Các ngành công nghiệp giá trị thấp đang dần dần hình thành ở những khu vực khác tại Đông Nam Á. Nguyên nhân là do Việt Nam không còn áp dụng các chính sách ưu đãi như trước, nên việc tìm kiếm nguồn lao động cũng như đất đai giá rẻ tại Việt Nam trở nên khá khó khăn. Tuy nhiên, nhà đầu tư của những ngành công nghiệp có giá trị cao tại nước ngoài vẫn lạc quan về sự tăng trưởng dài hạn của Việt Nam”, ông John Campbell cho biết thêm.

Tình hình ngành công nghiệp tại hai miền có sự khác nhau

Miền Bắc đang thu hút nhiều vốn đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, tập trung vào nhóm ngành thiết bị điện tử. Trong 9 tháng đầu năm 2021, ngành sản xuất khu vực phía Bắc nhận được nhiều vốn FDI đăng ký mới nhất cả nước, đạt 3,99 tỷ USD và chiếm 72,92%. Trong đó, thiết bị điện dẫn đầu các ngành hàng với mức đầu tư chiếm tỷ trọng 18%. Theo sau là máy tính và điện tử với 16%.

Bên cạnh đó, 4 trên 5 dự án đầu tư lớn vào vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc trong 9 tháng đầu năm đều tới từ nhóm ngành có giá trị gia tăng cao. Khu công nghiệp Amata Quảng Ninh ghi nhận nguồn vốn hơn 498 triệu USD đến từ nhà đầu tư Jinko Solar cho lĩnh vực thiết bị điện.

Khu công nghiệp Quang Châu của Bắc Giang được 2 nhà đầu tư lớn là Foxconn Technology và JA Solar Investment rót vốn lần lượt là hơn 270 triệu USD và hơn 269 triệu USD. Theo sau là BYD Electronics với hơn 269 triệu USD tại Khu công nghiệp Phú Hà, Phú Thọ.

Trong khi đó, tình hình sản xuất ở vùng kinh tế phía Nam cho thấy một bức tranh khác. So với miền Bắc, các dự án đầu tư tại miền Nam trong 9 tháng đầu năm có quy mô vốn nhỏ hơn, vẫn tập trung chủ yếu ở các ngành sản xuất, chế tạo truyền thống. Nguồn vốn FDI đăng ký mới được phân bổ đồng đều cho các lĩnh vực nhựa và cao su, dệt may, thực phẩm, giấy và may mặc, quanh mức 2-3% mỗi ngành.

Trong số 5 dự án công nghiệp lớn nhất đầu tư vào miền, thực phẩm và đồ uống nhận được tổng vốn đầu tư lớn nhất với Khu công nghiệp Protrade Bình Dương nhận 78 triệu USD từ IDL Coffee Holdings và Khu công nghiệp Becamex Bình Phước nhận trên 36 triệu USD.

Theo sau là ngành sản phẩm từ kim loại và giấy với 60 triệu USD cho mỗi ngành tại 2 Khu công nghiệp Minh Hưng, Bình Phước và Lộc An - Bình Sơn, Đồng Nai. Khu công nghiệp Thành Công, Tây Ninh nhận 48 triệu USD cho ngành dệt may từ Top Sports Textiles.

Cần tập trung vào Công nghiệp 4.0

Nhận xét về xu hướng phát triển của ngành, ông Matthew Powell, Giám đốc Savills Hà Nội chia sẻ: “Các doanh nghiệp hiện nay đang chú trọng nâng cao công nghệ và đẩy mạnh sản xuất theo chuỗi giá trị, chuyển sang mô hình sản xuất sạch và sản phẩm công nghệ cao nhằm thích ứng với nhu cầu từ khách hàng. Bởi vậy, nhà phát triển bất động sản cần lưu ý để cung cấp những khu công nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu này”.

Việc phát triển các ngành hàng trong chuỗi giá trị sẽ thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp Việt Nam. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) chỉ ra rằng lĩnh vực sản xuất có thể đạt mức tăng trưởng 16% trong các chiến lược 4.0 vào năm 2030 nếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa bắt đầu triển khai các công nghệ cấp trung bình. Thêm vào đó, công nghệ mới có thể giúp lĩnh vực này tăng thêm 7-14 tỷ USD trong tương lai.

Để nâng cao năng lực sản xuất, các doanh nghiệp đang tích hợp các công nghệ mới nổi tại nhà máy như trí tuệ nhân tạo hay in mô hình 3D. Hiện tại, Vingroup đã bắt đầu sử dụng 1.200 robot ABB trong một số quy trình hàn của mình. Công ty Cổ phần Công nghiệp KTG - một nhà phát triển Xưởng xây sẵn tại Việt Nam đã bắt đầy xây dựng các Xưởng xây sẵn 4.0 tại tỉnh Đồng Nai. Nhà máy Công nghiệp 4.0 của họ sẽ tích hợp các bất động sản công nghiệp xây sẵn với công nghệ 4.0 - cung cấp các giải pháp thông minh hơn, sáng tạo hơn và tối ưu hơn cho tầm nhìn phát triển của khách thuê.

HS

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700