WB: Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 có thể đạt 2,8%, cao thứ 5 thế giới

17:03 | 30/07/2020

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 có thể đạt 2,8%, xếp thứ 5 trên thế giới, sau đó sẽ đạt mức tăng trưởng 6,7% vào 2021. Dự báo mới thấp hơn 2,1 điểm phần trăm so với triển vọng được đưa ra gần nhất của tổ chức này.

Thông tin vừa được đưa ra tại buổi công bố báo cáo Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam với chủ đề “Trạng thái bình thường mới ở Việt Nam sẽ ra sao? Tác động kinh tế của Covid-19” diễn ra chiều 30/7, tại Hà Nội.

Với hơn 17 triệu ca nhiễm và hơn 650 nghìn người tử vong trên toàn thế giới, đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 đã trở thành cú sốc y tế lớn nhất trong vài thập kỷ qua, thậm chí cả thế kỷ qua. Kéo theo đó là dấu hiệu suy thoái kinh tế đã bắt đầu nhen nhóm ở nhiều quốc gia.

Các chính phủ phải đối mặt với lựa chọn khó khăn giữa việc giãn cách xã hội để cứu sống nhân mạng hay mở cửa để cứu nền kinh tế.

tang truong gdp cua viet nam nam 2020 co the dat 28 cao thu 5 the gioi
WB tin tưởng Việt Nam có cơ hội đặc biệt để nâng tầm dấu ấn trong nền kinh tế toàn cầu

GDP năm 2020 được dự báo đạt 2,8%

Chia sẻ tại buổi công bố, Quyền Giám đốc WB tại Việt Nam, bà Stefanie Stallmeister, cho rằng dịch Covid-19 không những là cú sốc về y tế mà còn là cú sốc về kinh tế. Ngoại trừ Đông Á, tất cả các khu vực khác đều tăng trưởng âm. Vì vậy, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam 2,8% trong năm nay đã là rất tích cực.

Theo đại diện WB, trong khi các quốc gia còn chưa biết đi theo hướng nào thì Việt Nam đã có những phản ứng nhanh và mạnh dạn, có biện pháp ứng phó sớm và minh bạch thông tin, truyền thông sáng tạo, qua đó giúp chống dịch hiệu quả.

Tuy nhiên, bà cũng nhận định rằng Việt Nam sẽ vẫn phải chịu những ảnh hưởng do Covid gây ra, khi vaccine chưa được thương mại hóa. Đồng thời, sự bùng phát của làn sóng Covid thứ hai tại Đà Nẵng cũng nhắc nhở và cho thấy sự mong manh của nền kinh tế.

Báo cáo của WB cho biết, mặc dù vẫn đứng vững trong nửa đầu năm nhưng nền kinh tế Việt Nam cũng chỉ tăng trưởng 1,8%, hay tương đương mức giảm xấp xỉ 5 điểm phần trăm so với quỹ đạo tăng trưởng trước đó.

Đồng thời, có khoảng 30 triệu người lao động, tức một nửa lực lượng lao động, đã có lúc bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Trong số đó, khoảng 8 triệu người đã mất việc làm.

Các chính sách nới lỏng kinh tế xã hội cũng đã giúp sức cho các ngành phục hồi nhưng du lịch, chế biến xuất khẩu vẫn gặp nhiều rủi ro.

Với góc nhìn lạc quan, WB tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những nền kinh tế sôi động trên thế giới, tăng trưởng GDP sẽ đạt 2,8% trong năm 2020, sau đó phục hồi lại mức 6,7% trong năm 2021. Đồng thời, Việt Nam sẽ là quốc gia tăng trưởng đứng thứ 5 trên thế giới trong năm nay.

Trước đó, VEPR dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam có thể đạt 3,8% ở kịch bản tích cực và kịch bản xấu nhất là 2,2%. Tuy nhiên, kịch bản này chưa tính đến yếu tố dịch có thể quay trở lại.

Cần tìm kiếm động lực tăng trưởng mới

Báo cáo của WB cho rằng, Việt Nam không nên tư duy theo hướng trở lại trạng thái bình thường cũ, thay vào đó cần tìm hiểu trạng thái bình thường mới sẽ ra sao khi đại dịch làm thay đổi cách con người sống và làm việc.

“Việt Nam sẽ phải vận động trong một thế giới bất định cả ở trong nước và quốc tế trong thời gian tới. Chúng tôi cho rằng các nhà hoạch định chính sách sẽ phải tìm hướng thay thế cho những động lực tăng trưởng truyền thống của quốc gia, gồm cầu nước ngoài và cầu suy yếu trong nước”, bà Stefanie Stallmeister nhấn mạnh.

Theo Quyền Giám đốc WB tại Việt Nam, Chính phủ sẽ phải chuyển đổi cách tiếp cận theo hướng thận trọng mở cửa biên giới, triển khai gói kích thích tài khóa quy mô lớn và hỗ trợ đúng đối tượng doanh nghiệp và người lao động bị ảnh hưởng nhất trong xã hội.

“Chúng ta cũng cần phải nhớ rằng, Covid-19 đã tác động đến hầu như tất cả mọi người nhưng không phải ai cũng chịu tác động như nhau. Chính vì vậy, tình trạng bất bình đẳng mới sẽ nảy sinh, đòi hỏi phải có sự quan tâm của chính phủ”, bà Stefanie Stallmeister lưu ý.

Nhờ thoát được quỹ đạo dịch bệnh sớm, WB tin tưởng rằng Việt Nam có cơ hội đặc biệt nhằm nâng tầm dấu ấn trong nền kinh tế toàn cầu cả về thương mại và đầu tư, đồng thời thúc đẩy nghị trình cải cách trong nước bao gồm chuyển đổi số và quản lý tài nguyên bền vững.

“Trong nguy luôn có cơ, tôi hy vọng các bạn đồng ý với tôi cuộc khủng hoảng lần này khác với lần trước và nếu được quản lý tốt thì khủng hoảng lần này có thể giúp Việt Nam tiến nhanh tới ước vọng thịnh vượng và trở thành nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045”, Quyền Giám đốc WB tại Việt Nam tin tưởng, đồng thời nhận định “tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời thế giới”.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900