Xu hướng cắt giảm và chấm dứt nhiệt điện than

15:21 | 16/06/2021

Nhìn ra thế giới, xu hướng ngày nay là cắt giảm ngay và chấm dứt nhiệt điện than. Hàn Quốc và Nhật Bản - hai trong số ba quốc gia còn lại đầu tư cho nhiệt điện than ở Việt Nam đã chính thức tuyên bố dừng cấp vốn cho các dự án điện than mới.

xu huong cat giam va cham dut nhiet dien than
Ảnh minh họa

Việt Nam có tiềm năng điện mặt trời phân tán và kết hợp rất lớn, vì loại hình năng lượng này huy động được rất tốt nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và người dân. Điều này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng: cái gì người dân, doanh nghiệp, xã hội làm tốt hơn thì để người dân, xã hội, doanh nghiệp làm. Từ quan điểm trên, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) cho rằng Quy hoạch điện VIII cần đưa ra chính sách để phát triển mạnh loại hình điện mặt trời thay vì kìm hãm chỉ phát triển 2GW trong 10 năm tới.

Theo VSEA, Quy hoạch điện VII điều chỉnh đã không dự báo được xu thế phát triển ngoạn mục của điện mặt trời, dẫn tới sự phát triển nóng của điện mặt trời, không đồng bộ giữa thị trường và chính sách, giữa nguồn với lưới điện. Nếu chọn kìm hãm điện mặt trời sẽ dẫn tới vừa lãng phí nguồn tài nguyên, vừa lặp lại bài học đắt giá từ Quy hoạch điện VII điều chỉnh về sự chậm chễ trong chính sách.

Nhằm tăng khả năng truyền tải, Chính phủ nên đưa ra chính sách khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư xây dựng lưới điện để giải tỏa công suất năng lượng tái tạo và giảm gánh nặng đầu tư cho nhà nước. Riêng khâu vận hành và quản lý lưới vẫn do Nhà nước đảm trách, bà Ngụy Thị Khanh - Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), kiêm Chủ tịch VSEA đề xuất.

Song song với đó, cần thúc đẩy triển khai pin tích trữ ngay trong giai đoạn này như kiến nghị của EVN vì đây là công nghệ có khả năng điều tần rất nhanh, điều chỉnh công suất tốt, phủ đỉnh, giảm tắc nghẽn hệ thống truyền tải và phân phối, hạn chế cắt giảm công suất năng lượng tái tạo. Bởi theo NREL, giá pin tích trữ giảm rất nhanh, từ 2010 đến 2020 giảm khoảng 80%. Dự báo đến năm 2050 chỉ còn khoảng 40% so với hiện nay. Đồng thời, đẩy nhanh hoàn thiện thị trường điện cạnh tranh, xóa bỏ độc quyền để giải phóng đầu tư tư nhân cho phát triển năng lượng bền vững.

Ở chiều ngược lại, phải kiên quyết loại bỏ ra khỏi quy hoạch các dự án điện than không được các địa phương ủng hộ, tính khả thi thấp, và rủi ro cao, bà Ngụy Thị Khanh kiến nghị.

Nhìn ra thế giới, xu hướng ngày nay là cắt giảm ngay và chấm dứt nhiệt điện than. Hàn Quốc và Nhật Bản - hai trong số ba quốc gia còn lại đầu tư cho nhiệt điện than ở Việt Nam đã chính thức tuyên bố dừng cấp vốn cho các dự án điện than mới. Tại Đông Nam Á, Philippines cũng đã ban hành chính sách dừng phát triển điện than mới từ tháng 11/2020 và Indonesia tuyên bố ngưng dự án điện than mới sau năm 2023.

Tại Việt Nam, mặc dù đã được hưởng cơ chế đặc thù, nhưng 16/34 dự án điện than vẫn không đi vào vận hành đúng tiến độ, và tiếp tục bị đẩy lùi thêm nhiều năm nữa trong dự thảo Quy hoạch điện VIII. Trong bối cảnh này, áp lực cấp vốn sẽ đặt lên vai các ngân hàng trong nước, đe dọa sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia.

Nhiệt điện than ngày càng đắt đỏ với các chính sách tăng cường bảo vệ môi trường đang được xây dựng và sắp được ban hành như Nghị định quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn, quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn phát thải thắt chặt hơn.

Việc tiếp tục phát triển điện than sẽ còn gây ra hàng loạt hệ lụy với xã hội và nền kinh tế: tăng thêm gánh nặng bệnh tật cho người dân và áp lực cho hệ thống y tế, tạo ra xung đột với ngành nuôi trồng thủy hải sản và du lịch, gây bất lợi về năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang các thị trường chủ chốt như EU, Mỹ, Nhật Bản, ngay cả Trung Quốc khi các nước trên đều đồng thuận đánh thuế các-bon lên hàng hóa của các nước sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch.

Khẳng định tiếp tục phát triển các dự án điện than mới là đi ngược xu hướng của thế giới. VSEA kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Quy hoạch điện VIII ưu tiên thực hiện ngay các giải pháp cải cách ngành điện để giải phóng nguồn vốn đầu tư tư nhân vào năng lượng sạch. Chính sách phát triển năng lượng của quốc gia cần quan tâm hỗ trợ sự tham gia và hưởng lợi của các doanh nghiệp nội, chứ không chỉ riêng các doanh nghiệp FDI – vốn đã có rất nhiều lợi thế. Quan tâm đến các chính sách cho điện mặt trời phân tán và kết hợp chính là tạo cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, bà Ngụy Thị Khanh chia sẻ.

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.822 23.042 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.850 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.850 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.840 23.055 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.827 23.042 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.250
Vàng SJC 5c
56.550
57.270
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400