Xuất khẩu cà phê khó đạt mục tiêu

08:35 | 28/05/2020

Cà phê là ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, chiếm 3% GDP cả nước, kim ngạch nhiều năm đạt trên 3 tỷ USD. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp trên thị trường cà phê thế giới cũng như trong nước đang khiến cho ngành cà phê phải chuẩn bị sẵn những kịch bản ứng phó với những khó khăn và thách thức phía trước.

Doanh nghiệp, nông hộ trồng cà phê đang gặp khó
Nông dân lo lắng vì cà phê mất giá
Tín dụng tái canh cây cà phê phát huy hiệu quả

Theo Trung tâm Khí tượng-Thủy văn quốc gia, những ngày qua do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén nên các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên liên tục có nắng nóng với nhiệt độ phổ biến 34-37 độ, thậm chí có nơi trên 37 độ. Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng ở các tỉnh cấp 1-2, riêng tại các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận ở cấp 2 - 3...

Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản lượng, nguồn cung trong nước hạn chế, đẩy giá cà phê tại thị trường nội địa tăng kể từ đầu tháng 5/2020. Cụ thể, trong tuần này, giá cà phê nhân xô thấp nhất tại Lâm Đồng khi ở mức 31.200 đồng/kg, cao nhất tại Đắk Lắk với 31.600 đồng/kg. Nhìn chung giá cà phê đã tăng khoảng 200 đồng/kg so với tuần qua. Trước đó, giá cà phê cũng có mức tăng dao động trong khoảng 600 - 800 đồng/kg bởi tác động không nhỏ từ sàn giao dịch cà phê Robusta London.

Cần các biện pháp đồng bộ để phát triển ngành cà phê bền vững và hiệu quả

Số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu cà phê tháng 4/2020 đạt 165,8 nghìn tấn, trị giá 279,83 triệu USD, giảm 2,5% về lượng và giảm 5,1% về trị giá so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu cà phê đạt hơn 682 nghìn tấn, trị giá 1,148 tỷ USD, tăng 8,1% về lượng và tăng 5,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019. Nếu tính về giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.688 USD/tấn, giảm 2,7% so với tháng 3 và giảm 0,1% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu bình quân cà phê đạt mức 1.682 USD/tấn, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2019...

Việc sản lượng và giá trị cà phê xuất khẩu sụt giảm tạo áp lực lên mục tiêu xuất khẩu từ nay đến cuối năm. Mặc dù vậy, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) vẫn đưa ra dự báo, giá cà phê có khả năng sẽ phục hồi trong quý III/2020, khi các biện pháp kích thích kinh tế phát huy tác dụng, cùng nắng nóng, khô hạn bớt gay gắt và thị trường nhập khẩu khôi phục nhu cầu trở lại.

Thực tế cho thấy, cà phê là ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, chiếm 3% GDP cả nước, kim ngạch nhiều năm đạt trên 3 tỷ USD. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp trên thị trường cà phê thế giới cũng như trong nước đang khiến cho ngành cà phê phải chuẩn bị sẵn những kịch bản ứng phó với những khó khăn và thách thức phía trước.

Hiện, các sản phẩm cà phê của Việt Nam đã và đang xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu (đứng thứ 2, sau Brazil). Đặc biệt, cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu đã chiếm 9,1% thị phần (đứng thứ 5, sau Brazil, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ). Trong những năm qua, xuất khẩu cà phê của Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, đạt 8,2%/năm với kim ngạch bình quân 3,13 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2018, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước... Song điều đáng nói, sản lượng cà phê Việt còn bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết; đặc biệt, sản phẩm cà phê chế biến, thương hiệu cà phê của Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới chưa đạt kỳ vọng

Chính vì vậy, trước thực trạng này, các chuyên gia cho rằng, để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 6 tỷ USD vào năm 2030, ngoài  việc nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm cà phê Việt thì cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu cà phê thông qua việc triển khai các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Cùng với đó, cần đẩy mạnh việc tái cơ cấu ngành cà phê hiệu quả, xây dựng các vùng trồng tập trung, chuyên canh gắn với phát triển công nghiệp chế biến, áp dụng tiến bộ công nghệ cao, thúc đẩy liên kết vùng nguyên liệu với các cơ sở, nhà máy chế biến sâu để tạo nguồn hàng đảm bảo ổn định về chất lượng và sản lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Phương Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250