Nông dân lo lắng vì cà phê mất giá

10:14 | 05/02/2020

Giá cà phê sụt giảm không những ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân, mà còn ảnh hưởng đến cả quá trình canh tác, thu hoạch.

Tín dụng tái canh cây cà phê phát huy hiệu quả
Kết nối mở rộng thị trường cà phê
Thúc đẩy tiêu thụ cà phê Việt Nam ra thị trường thế giới

Giá tiếp tục giảm

Niên vụ cà phê 2019 - 2020 đã hoàn tất thu hoạch. Hiện các nhà vườn đang tỉa cành, tưới nước chuẩn bị cho mùa tiếp theo. Thế nhưng, thị trường cà phê lại khá ảm đạm, giá cả mặt hàng này duy trì ở mức thấp nhất trong nhiều năm qua.

Qua khảo sát thực tế, giá cà phê nhân xô trên thị trường trong những ngày gần đây dao động quanh mức 30,5 - 31 triệu đồng/tấn. Đây là mức giá thấp nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây, khiến người trồng không khỏi thấp thỏm lo lắng.

Cần thiết lập chuỗi sản xuất, chế biến tiêu thụ bền vững đối với cà phê để giúp nông dân giảm thiểu rủi ro

Theo Cục Xuất nhập khẩu, hiện các sản phẩm cà phê Việt Nam có mặt tại hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu (đứng thứ 2, sau Brazil). Đặc biệt, cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu chiếm 9,1% thị phần (đứng thứ 5, sau Brazil, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ).

Thế nhưng trên thực tế, sản lượng cà phê xuất khẩu liên tục sụt giảm, giá xuống thấp. Nhiều nông dân khu vực Tây Nguyên bỏ vườn không chăm sóc hoặc đang có ý định chặt bỏ cây cà phê để trồng cây khác.

Theo báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu cà phê tháng 12/2019 đạt khoảng 126.000 tấn, trị giá 218 triệu USD, lũy kế xuất khẩu cà phê cả năm 2019 khoảng 1,59 triệu tấn, kim ngạch 2,75 tỷ USD, giảm 15,2% về khối lượng và giảm 22,4% về giá trị so với năm 2018. Điều đáng lo ngại, giá cà phê xuất khẩu giảm 8,9% so với năm 2018.

Ngoài 2 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Đức và Mỹ với thị phần lần lượt 12,9% và 8,7%, hiện Việt Nam cũng là quốc gia đang có nguồn cung cà phê lớn nhất cho Thái Lan. Tuy nhiên thời gian gần đây, Thái Lan đang có sự dịch chuyển, tăng nhập khẩu cà phê từ các nước như Indonesia, Malaysia, Mỹ, Brazil… khiến thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan giảm đáng kể trong năm 2019.

Đối với thị trường trong nước, từ đầu năm 2020, giá cà  phê thu mua tại khu vực Tây Nguyên cũng tiếp tục giảm. Hiện giá cà phê Robusta trong nước ở mức thấp nhất khoảng 31.700 đồng/kg tại Lâm Đồng; mức cao nhất là 32.500 đồng/kg tại Đăk Lăk… Như vậy, giá cà phê trên thị trường trong nước vẫn đang có xu hướng tiếp tục sụt giảm. Đây là tín hiệu bất lợi cho người nông dân trồng cà phê.

Nông dân gặp khó

Đăk Lăk là một trong những địa phương có diện tích trồng cà phê lớn nhất Tây Nguyên. Hiện tỉnh này có hơn 203.000ha cà phê, sản lượng bình quân hàng năm ước khoảng 460.000 tấn. Trong đó, cà phê được bán dưới dạng thương mại chiếm khoảng 95%. Trước tình hình giá cà phê ảm đạm, người trồng cà phê tại đây không khỏi lo lắng. Hiện đã có một số nhà vườn chặt bỏ cây cà phê chuyển sang trồng các loại cây ăn quả.

Giá cà phê sụt giảm không những ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân, mà còn ảnh hưởng đến cả quá trình canh tác, thu hoạch. Một nông hộ trồng hơn 3ha cà phê ở xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột cho hay, thông thường vào mùa thu hoạch là người lao động từ các tỉnh miền Trung dồn về Tây Nguyên để thu hái. Nhưng niên vụ này, nhân công các tỉnh khu vực miền Trung không đến, không mặn mà với nghề thu hái cà phê như những năm trước do giá nhân công giảm. Điều này khiến các nông hộ phải thuê nhân công tại địa phương; nhu cầu lớn, nguồn cung ít, nên người làm cũng không nhiệt tình khiến mùa thu hoạch càng trở nên khó khăn. Thậm chí, giá nhân công cũng phát sinh chi phí tăng thêm.

Các chuyên gia cho rằng, để góp phần tháo gỡ khó khăn cho nông hộ trồng cà phê, chính quyền và DN cần tăng cường hỗ trợ nông dân về vốn; liên kết phát triển chuỗi sản xuất-tiêu thụ sản phẩm cà phê. Đồng thời, đẩy mạnh công tác quản lý, khuyến cáo hộ trồng cà phê bình tĩnh, không nên chặt bỏ cây cà phê khi giá sụt giảm. Chính quyền và ngành nông nghiệp cần theo sát diễn biến thị trường cũng như hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy hoạch phát triển cây cà phê, không để xảy ra tình trạng phát triển ồ ạt khi cà phê tăng giá, chặt bỏ khi mất giá...

Bài và ảnh Chí Thiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 25.667 26.894 28.701 29.729 212,13 222,94
BIDV 23.565 23.725 26.021 26.860 29.028 29.611 213,97 222,40
VietinBank 23.560 23.730 26.026 26.861 28.989 29.629 216,95 224,65
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.550 23.710 25.966 26,569 29.046 29.720 217,43 222,47
ACB 23.550 23.710 26.002 26.403 29.132 29.507 218,48 221,85
Sacombank 23.538 23.720 26.014 29.645 29.126 29.645 217,69 224,07
Techcombank 23.552 23.712 25.746 26.722 28.734 29.680 216,67 223,64
LienVietPostBank 23.500 23.680 25.634 26.628 28.764 29.745 214,87 226,07
DongA Bank 23.570 23.700 25.980 26.410 29.020 29.540 213,50 220,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
48.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
48.300
Vàng SJC 5c
47.100
48.320
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.900
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.700