16:00 | 23/05/2018

Bước đệm cho tăng trưởng dài hạn

Sớm hình thành bộ máy phục vụ giai đoạn thực sự kiến tạo với cách nhìn mới, tạo ra luật chơi mới

Cơ cấu nền kinh tế và lấy lại đà tăng trưởng đã đạt mục tiêu
Vốn để kho lo tăng trưởng
Chất lượng tăng trưởng trước nỗi lo hội nhập

Gần đây các chuyên gia lưu ý Việt Nam cần cải thiện một số động lực để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, phát triển trong giai đoạn trước mắt, cũng là tiền đề cho trung hạn 2018-2020. Bởi đây chính là giai đoạn bước đệm để có tăng trưởng bền vững hơn trong dài hạn.

Cải cách thể chế là nền tảng

Là người dành nhiều tâm huyết cho quá trình cải thiện môi trường đầu tư, TS. Phan Đức Hiếu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, cải cách thể chế là một động lực để tăng trưởng, phát triển. Xét dưới góc độ đó, theo ông Hiếu động lực cải cách hiện còn rất chậm. “Tháng 8 năm ngoái Chính phủ đề ra nhiệm vụ xoá bỏ rào cản điều kiện kinh doanh thì đến nay là gần 1 năm, chúng ta mới chính thức hiện thực hoá bằng 1 Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công thương, còn cơ bản các bộ, ngành khác vẫn nằm trên phương án hoặc dự thảo”, ông Hiếu dẫn chứng.

Việt Nam cần cải thiện một số động lực để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, phát triển trong giai đoạn trước mắt, cũng là tiền đề cho trung hạn

Xét về quy mô và phạm vi cải cách hiện nay cũng còn xa so với kỳ vọng, mới đang ở giai đoạn xoá bỏ các rào cản mà chưa tính tới yếu tố thúc đẩy phát triển. Ông Hiếu chỉ ra các vấn đề mang tính nền móng đối với môi trường kinh doanh vẫn chưa rõ ràng, đó là chưa bảo vệ tốt quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, chưa giải quyết tốt vấn đề tranh chấp hợp đồng… tạo cơ sở cho phát triển dài hạn. Các vấn đề này có liên quan trực tiếp đến một số luật mà Quốc hội chuẩn bị thông qua trong thời gian tới đây.

Theo ông Hiếu, xã hội dành nhiều kỳ vọng cho các luật như Đầu tư, DN, Đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt... trong khi một số luật như Luật An ninh mạng có tác động ngay và trực tiếp đến hoạt động của cộng đồng DN, thì lại ít được chú ý.

TS. Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khuyến nghị cần chú trọng tới khu vực kinh tế tư nhân và coi đây là động lực chính của tăng trưởng trong dài hạn. Ông Thắng băn khoăn, ách tắc trong phát triển hiện nay vẫn nằm ở cải cách thể chế và mong muốn các cơ quan quản lý làm quyết liệt hơn để phát triển khu vực này lớn mạnh trong thời gian tới.

“Trong 1 năm qua cải cách thể chế đã tiến triển nhưng nói chung còn chậm, tình trạng chung là trên nóng nhưng dưới còn lạnh, trên vội nhưng dưới khoan”, ông Thắng nói và lưu ý chuyển động này phải thể hiện ở cả hệ thống chứ không thể chỉ ở những người đứng đầu, mà để làm được điều này phải có chế tài xử lý mạnh hơn.

Điều kiện quan trọng nhất là chất lượng các văn bản pháp luật ở cấp dưới luật gồm Nghị định, Thông tư… cần được cải thiện. Chính giấy phép con và các ràng buộc nằm ở chất lượng các văn bản pháp luật thấp hơn mới tạo ra cản trở trong quá trình xử lý, điều hành nền kinh tế. Đây là việc cần làm ngay, làm nhanh thể hiện trên nóng dưới cũng nóng thì môi trường kinh tế tư nhân mới phát triển được.

Trong trung hạn, vấn đề cấu trúc lại bộ máy, thể chế chính trị để hình thành đúng nghĩa một nhà nước kiến tạo phát triển là việc cần tiến hành song song. TS. Bùi Tất Thắng nhấn mạnh, quá trình đổi mới ở Việt Nam đã qua 30 năm, đến thời điểm hiện nay những việc dễ làm đều đã được làm hết, từ giờ trở đi chủ yếu là việc khó. Đó là hình thành bộ máy để phục vụ cho giai đoạn thực sự kiến tạo với cách nhìn mới, tạo ra luật chơi mới, chứ không chỉ tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng cản của giai đoạn trước để lại. Khi đã có thể chế làm nền tảng, sẽ có cơ hội để thiết kế lại các động lực tăng trưởng vận hành lâu dài và bền vững hơn.

Làm rõ vai trò nhà nước - tư nhân

Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Cao Viết Sinh đặt vấn đề, đúng là cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, tuy nhiên làm thế nào để khu vực này là động lực quan trọng của cả nền kinh tế thì cần xem xét lại việc đặt động lực này ở đâu.

Ông phân tích, một thời gian chúng ta tư duy là lĩnh vực gì cũng giao tư nhân làm, dành hết cho tư nhân, tuy nhiên quan điểm này là không chính xác. Chẳng hạn trong đầu tư hạ tầng, nhà nước vẫn phải giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân chỉ bổ sung hỗ trợ, nếu để tư nhân đầu tư hết chắc chắn sẽ gây khó khăn khôn lường cho nền kinh tế.

“Đầu tư là cần thiết nhưng đầu tư cái gì, phải làm thế nào tạo động lực cho tư nhân đầu tư theo nhà nước”, ông Sinh nhấn mạnh và đề xuất, cần coi tiêu dùng là động lực quan trọng, từ đó tạo tiền đề kéo khu vực tư nhân đẩy mạnh sản xuất. Ông cho rằng các quốc gia trên thế giới đều lấy tiêu dùng là động lực quan trọng trong khi Việt Nam còn ít quan tâm đến vấn đề này, vì vậy chưa đưa ra các chính sách phù hợp.

Chuyên gia kinh tế, TS. Lê Xuân Nghĩa cũng nhấn mạnh vai trò của khu vực trong nước gắn với phát triển ngành công nghiệp. Ông lo ngại, hiện ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam đang nằm trong tay các DN FDI, song không thể chỉ dựa vào khối này để phát triển công nghiệp. Bối cảnh hiện nay phát triển nền công nghiệp theo hướng công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin là hợp lý. Tuy nhiên, cần đi theo chuỗi giá trị gia tăng và chọn đầu tư nguồn nhân lực, tiến tới tạo ra sản phẩm, công nghệ mới của chính DN nội địa tại đất nước mình.

Trong mặt bằng chung đó, vấn đề cải thiện năng suất lao động cũng được đặt ra là một động lực có thể cải thiện ngay trước mắt. Bởi theo chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực giai đoạn 1991-2017, năng suất lao động tăng bình quân 4,8%/năm, so với các quốc gia trong khu vực không hề thấp, như Singapore (2,3%), Indonesia (3,2%). Tuy nhiên về số tuyệt đối thì rất thấp, trong khu vực chỉ nhỉnh hơn Bangladesh hay Campuchia. Vì vậy ông Lực kiến nghị cần làm rõ thấp ở chỗ nào, từ đó tìm phương án cải thiện.

“Tôi cho rằng nguyên nhân chủ yếu là bởi trình độ nhân lực còn thấp, mức độ tinh vi trong kinh doanh của chúng ta xếp 100/137 nước, đầu tư cho công nghệ chỉ chiếm 0,5% doanh thu của DN, so với mức bình quân châu Á là 2,5%”, ông Lực gợi ý về các vấn đề có thể tập trung để cải thiện năng suất lao động.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350