07:30 | 16/10/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 15/10

Thị trường mở phiên hôm qua cân bằng ở hai chiều bơm - hút. VN-Index giảm 0,52 điểm (-0,05%) xuống còn 993,05 điểm; HNX-Index giảm 0,04 điểm (0,04%) xuống 106,01 điểm; UPCoM-Index giảm 0,02 điểm (-0,04%) xuống 56,76 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp. Khối ngoại quay trở lại bán ròng gần 34 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 14/10
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 7-11/10
 

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 15/10, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.150 VND/USD và tỷ giá bán ở mức 23.795 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.200 VND/USD, không thay đổi so với phiên 14/10. Tỷ giá trên thị trường tự do không thay đổi phiên thứ 5 liên tiếp ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.180 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,07 - 0,10 điểm phần trăm ở hầu hết các kỳ hạn ngoại từ tăng 0,02 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 1,83%; 1 tuần 2,00%; 2 tuần 2,25% và 1 tháng 2,65%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,01 - 0,05 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống; giao dịch tại: qua đêm 2,03%; 1 tuần 2,15%; 2 tuần 2,27%, 1 tháng 2,48%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn so với phiên 14/10, giao dịch tại: 3 năm 2,76%; 5 năm 2,90%; 7 năm 3,54%; 10 năm 3,88%; 15 năm 4,12%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 15/10, Ngân hàng Nhà nước huy động được gần như toàn bộ 18.000 tỷ đồng tín phiếu chào thầu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 2,25%. Trong ngày có 18.000 tỷ đồng đáo hạn. Như vậy, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường duy trì ở mức gần 90.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước duy trì chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 07 ngày, lãi suất 4,50%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, thị trường không còn duy trì được sắc xanh do nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn lùi xuống dưới mốc tham chiếu. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 0,52 điểm (-0,05%) xuống còn 993,05 điểm; HNX-Index giảm 0,04 điểm (0,04%) xuống 106,01 điểm; UPCoM-Index giảm 0,02 điểm (-0,04%) xuống 56,76 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt trên 4.400 tỷ đồng. Khối ngoại quay trở lại bán ròng gần 34 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Ngân hàng Nhà nước, lũy kế từ 15/8/2017 (thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực) đến 31/8/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được 236,8 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Tính trung bình từ 15/8/2017 đến 31/8/2019, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 9,6 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 4,7 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình từ 2012-2017.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng (theo Thông tư số 02) của hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được duy trì dưới mức 2% (đến 31/8/2019 là 1,98%).

Tin quốc tế

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng cho biết các doanh nghiệp và thương nhân nước này đã tiến hành mua các loại nông sản của Mỹ theo nhu cầu. Lượng hàng được cho biết bao gồm 700 nghìn tấn thịt lợn và 700 nghìn tấn lúa miến từ Mỹ. Liên quan đến thông tin kinh tế Trung Quốc, CPI nước này tăng 3,0% y/y trong tháng 9, cao hơn mức tăng 2,8% của tháng 8 đồng thời vượt qua dự báo tăng 2,9%.

Tổ chức ZEW cho biết niềm tin kinh tế của nước Đức ở mức -22,8 điểm trong tháng 10, giảm nhẹ so với mức -22,5 điểm của tháng trước nhưng không thấp như mức -27,0 điểm theo dự báo.

Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh cho biết tỷ lệ thất nghiệp tại nước này trong tháng 8 tăng lên mức 3,9% từ mức 3,8% của tháng trước đó, trái với kỳ vọng không có sự thay đổi của các chuyên gia. Bên cạnh đó, thu nhập bình quân của người lao động Anh chỉ tăng 3,8% trong tháng 8, thấp hơn mức tăng 3,9% của tháng 7 và dự báo ở mức 4,0%.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500