07:30 | 17/04/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 16/4

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 4.900 tỷ đồng từ thị trường. VN-Index giảm 5,73 điểm (-0,58%) xuống 977,17 điểm; HNX-Index giảm 0,59 điểm (-0,55%) xuống 107,11 điểm; UPCOM-Index giảm 0,011 điểm (-0,19%) xuống 56,53 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh. Khối ngoại mua ròng gần 246 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 8-12/4/2019

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 16/4, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 22.990 VND/USD, giảm 6 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.630 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.200 VND/USD, không thay đổi so với phiên 12/4. Tỷ giá tự do tăng 5 đồng ở chiều mua vào trong khi giảm 5 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.195 - 23.205 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 16/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,03 - 0,07 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn và tăng 0,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 4,18%; 1 tuần 4,30%; 2 tuần 4,35% và 1 tháng 4,43%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở kỳ hạn qua đêm trong khi tăng 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn dài hơn; giao dịch với mức: qua đêm 2,53%; 1 tuần 2,64%; 2 tuần 2,70%, 1 tháng 2,84%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở các kỳ hạn 3 năm và 7 năm, giảm ở các kỳ hạn 5 năm và 15 năm so với phiên 12/4, giao dịch tại: 3 năm 3,65%; 5 năm 3,91%; 7 năm 4,21%; 15 năm 5,09%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 16/4, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu. Như vậy, không còn khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố.

Ngân hàng Nhà nước chào thầu 5.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%, các tổ chức tín dụng hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 100 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 4.900 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên mức 14.000 tỷ đồng.

Thị trường chứng khoán sau khi giao giảm điểm mạnh ở đầu phiên, đặc biệt là các cổ phiếu nhóm Vingroup, thị trường về cuối phiên đã bớt áp lực hơn. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 5,73 điểm (-0,58%) xuống 977,17 điểm; HNX-Index giảm 0,59 điểm (-0,55%) xuống 107,11 điểm; UPCOM-Index giảm 0,011 điểm (-0,19%) xuống 56,53 điểm.

Thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch trên 3.000 tỷ. Khối ngoại mua ròng gần 246 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Xuất khẩu sang nhiều nước tăng mạnh nhờ CPTPP. Tổng cục Hải quan công bố số liệu thống kê xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản và Canada đã tăng lần lượt 11,2% và 36,7% trong hai tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước.

Đây là thành công lớn cho lĩnh vực ngoại thương được cho là nhờ hiệp định CPTPP. Đặc biệt, lần đầu tiên Nhật Bản cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho đại đa số nông, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam.

Đối với thị trường Canada, dệt may và da giày là hai ngành được hưởng lợi nhiều nhất khi CPTPP có hiệu lực; trong đó mức thuế nhập khẩu hàng dệt may được giảm từ 16 -17% xuống còn 0% theo lộ trình 4 năm; da giày được giảm thuế từ 18% xuống còn 0% trong lộ trình 7 -11 năm.

Tin quốc tế

Sản lượng công nghiệp Mỹ trong tháng 3 biến động không nhiều, giảm 0,1% so với tháng trước sau khi tăng 0,1% trong tháng 2. Tuy nhiên con số này trái với kỳ vọng tăng 0,2% của các chuyên gia. Kết thúc quý I, sản lượng công nghiệp Mỹ đã giảm 1,1% so với cùng kỳ, đây là quý đầu tiên cho thấy sự suy giảm kể từ sau quý III/2017.

Chỉ số niềm tin kinh tế của Đức ở mức 3,1 điểm trong tháng 4, tăng khá mạnh so với mức -3,6 điểm của tháng 3, đồng thời tích cực hơn mức 0,9 điểm dự báo. Đây là tháng thứ 6 liên tiếp chỉ số niềm tin kinh tế được cải thiện, cũng là tháng đầu tiên người dân Đức lạc quan trở lại kể từ tháng 4/2018.

Thu nhập bình quân của người lao động Anh trong tháng 2 tăng 3,5% so với cùng kỳ, bằng với mức tăng của tháng trước đó và dự báo của các chuyên gia. Bên cạnh đó khi đó tỷ lệ thất nghiệp tháng 2 được giữ vững ở mức 3,9%, không thay đổi so với tháng 1 và khớp với dự báo.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.450