08:00 | 14/04/2019

Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 8-12/4/2019

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.606 tỷ đồng ra thị trường. Phiên cuối tuần 12/4, VN-Index đứng ở mức 982,90 điểm, giảm 6,36 điểm (-0,64%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm nhẹ 0,17 điểm (-0,16%), xuống mức 107,70 điểm; UPCOM-Index giảm 0,29 điểm (-0,51%) xuống 56,64 điểm. Thanh khoản thị trường sụt giảm. Khối ngoại bán ròng nhẹ gần 64 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 11/4
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 10/4
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 9/4
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/4

Ngân hàng Nhà nước đưa ra phương án giảm tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn xuống 30% trong dự thảo Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD). 

Ảnh minh họa

Dự thảo Thông tư khi được ban hành sẽ thay thế Thông tư số 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 06/2016/TT-NHNN ngày 27/5/2016, Thông tư 19/2017/TT-NHNN ngày 28/12/2017 và Thông tư 16/2018/TT-NHNN ngày 31/7/2018 (sau đây gọi là Thông tư 36). Dự thảo lần này đưa ra nhiều sửa đổi, bổ sung chặt chẽ hơn, đáng chú ý có thể tạo tác động lớn tới thị trường.

Điểm sửa đổi được coi là quan trọng nhất là Ngân hàng Nhà nước đề nghị điều chỉnh lộ trình giảm dần tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn. Theo đó có 2 phương án được đưa ra.

Phương án 1: Duy trì mức 40% đến ngày 30/6/2020; sau đó giảm xuống 35% từ 1/7/2020 đến hết ngày 30/6/2021; từ ngày 1/7/2021 giảm còn 30%. 

Phương án 2: Duy trì mức 40% đến ngày 30/6/2020; sau đó giảm xuống 37% từ 1/7/2020 đến hết ngày 30/6/2021; từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022 giảm còn 34%; từ ngày 1/7/2022 giảm xuống mức 30%.

Hiện nay, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn là 40%. Ngân hàng Nhà nước cho biết việc điều chỉnh này nhằm từng bước kiểm soát được rủi ro thanh khoản, bảo đảm an toàn hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngoài ra, việc giảm tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn hàng năm 5% không tác động lớn đến hoạt động của tổ chứ tín dụng và nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp không phụ thuộc vào vốn ngân hàng mà tiếp cận các nguồn vốn khác như: phát hành cổ phiếu tăng vốn, phát hành trái phiếu doanh nghiệp...

Tiếp theo, Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung số dư thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng; số dư cam kết phát hành dưới hình thức thư tín dụng chứng từ (sau khi trừ đi số tiền ký quỹ) vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, mặc dù thư tín dụng (LC) là một hình thức thanh toán nhưng trong quản trị rủi ro tín dụng của tổ chức tín dụng, xét về bản chất, phát hành LC là một hình thức cấp tín dụng. Do đó, số dư phát hành LC (sau khi trừ đi số tiền ký quỹ) được tính vào dư nợ cấp tín dụng và tuân thủ quy định về giới hạn cấp tín dụng.

Tiếp theo, Ngân hàng Nhà nước đề xuất cho phép khách hàng sử dụng tài sản bảo đảm là trái phiếu do TCTD, công ty con của TCTD; trái phiếu của doanh nghiệp phát hành mà khách hàng vay để mua trái phiếu của doanh nghiệp đó.

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc này sẽ cho phép TCTD có thể thu hồi được phần vốn cho vay từ phát mại tài sản bảo đảm trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung nội dung quy định về việc TCTD không được cấp tín dụng để khách hàng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp trong trường hợp tín dụng để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp của doanh nghiệp là công ty con của chính ngân hàng đó.

Hiện nay, một số doanh nghiệp là công ty con của NHTM đang thực hiện huy động vốn thông qua việc ngân hàng mẹ cho vay đối với một tổ chức khác (là "sân sau" của ngân hàng và công ty con của ngân hàng) để tổ chức này mua trái phiếu doanh nghiệp. Vì vậy, dự thảo Thông tư bổ sung quy định này nhằm hạn chế việc sử dụng dòng tiền vay của NHTM, lòng vòng để mua trái phiếu doanh nghiệp do công ty con của NHTM phát hành.

Một nội dung rất lớn khác trong dự thảo là việc điều chỉnh hệ số rủi ro. Theo quy định hiện hành, các khoản phải đòi được bảo đảm toàn bộ bằng nhà ở (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai), quyền sử dụng đất, công trình xây dựng gắn với quyền sử dụng đất của bên vay có hệ số rủi ro 50%.

Theo đề xuất tại dự thảo, các khoản đòi này phải đáp ứng một trong các điều kiện: Là khoản cho vay để phục vụ hoạt động kinh doanh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; là khoản cho vay cá nhân để khách hàng mua nhà ở xã hội, mua nhà ở theo các chương trình, dự án hỗ trợ của Chính phủ; là khoản cho vay cá nhân để khách hàng mua nhà có giá trị dư nợ gốc dưới 1,5 tỷ đồng. Đáng chú ý, hệ số rủi ro tăng lên 150% đối với khoản phải đòi đối với cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống mà dư nợ gốc của một khách hàng có giá trị từ 3 tỷ đồng trở lên.

Việc điều chỉnh này, theo Ngân hàng Nhà nước, xuất phát từ chủ trương kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào lĩnh vực bất động sản theo hướng: thắt chặt nguồn tín dụng, giảm hạn mức cho vay đối với các dự án bất động sản cao cấp và một chủ đầu tư có nhu cầu vay số lượng lớn cho nhiều dự án bất động sản...

Bên cạnh đó, quy định này cũng là thông điệp của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát cho vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống liên quan đến bất động sản để mua nhà ở phân khúc cao cấp, gián tiếp yêu cầu TCTD cần dự trữ thêm vốn đối với lĩnh vực bất động sản có tiềm ẩn rủi ro.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ tuần từ 8-12/4, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá trung tâm không theo xu hướng nhất định, tăng/giảm qua các phiên. Chốt tuần 12/4, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 22.996 VND/USD, tăng 8 VND/USD so với cuối tuần trước.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước duy trì niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. Tỷ giá bán ra được niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, phiên cuối tuần ở mức 23.636 VND/USD.

Tỷ giá liên ngân hàng tiếp tục ít biến động trong tuần. Chốt tuần 12/4, tỷ giá vẫn giao dịch ở mức 23.200 VND/USD, không thay đổi so với cuối tuần trước đó.

Cũng giống như tuần trước, tỷ giá trên thị trường tự do cũng ít biến động trong tuần này. Kết thúc ngày 12/4, tỷ giá tăng 5 đồng ở chiều mua vào trong khi giảm 10 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước, giao dịch ở mức 23.195 - 23.210 VND/USD.

Trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng VND tăng trở lại ở tất cả các kỳ hạn trong tuần này. Chốt tuần 12/4, lãi suất giao dịch quanh mức: qua đêm 4,25% (+0,30 điểm phần trăm); 1 tuần 4,35% (+0,38 điểm phần trăm); 2 tuần 4,38% (+0,40 điểm phần trăm); 1 tháng 4,42% (+0,39 điểm phần trăm).

Lãi suất liên ngân hàngđối với USD tiếp tục thay đổi nhẹ trong tuần này. Cuối tuần 12/4, lãi suất đứng ở mức qua đêm 2,53% (+0,03 điểm phần trăm); 1 tuần 2,63% (+0,05 điểm phần trăm, 2 tuần 2,68% (+0,01 điểm phần trăm) và 1 tháng 2,83% (không thay đổi).

Đối với thị trường mở, tuần từ 8-12/4, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố vẫn với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%. Tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu. Trong tuần có 196 tỷ đồng đáo hạn trên kênh này. Như vậy, không còn khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố.

Ngân hàng Nhà nước chỉ chào thầu 13.000 tỷ đồng tín phiếu với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Các TCTD cũng hấp thụ được 10.200 tỷ đồng. Trong tuần có 17.001 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 10.200 tỷ đồng.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 6.606 tỷ đồng ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong tuần vừa qua.

Trên thị trường trái phiếu, ngày 10/4, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 1800/3000 tỷ đồng gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 60%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm huy động được 800/1000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm huy động được 800/1000 tỷ đồng, kỳ hạn 30 năm huy động được 200/500 tỷ đồng.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm, 15 năm và 30 năm lần lượt tại 4,72%/năm; 5,06%/năm và 5,85%/năm, không thay đổi so với phiên trước.

Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch Outright và Repos trung bình khoảng 9.593 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ so với mức trên 8.000 tỷ đồng/phiên trong tuần trước đó.

Chốt phiên 12/4, lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng so tuần trước đó. Cụ thể, các mức lợi suất trái phiếu Chính phủ giao dịch quanh mức: 1 năm 3,3%; 2 năm 3,51%; 3 năm 3,63%; 5 năm 3,91%; 7 năm 4,17%; 10 năm 4,78%.

Đối với thị trường chứng khoán, thị trường lại có một tuần tiêu cực khi cả 3 chỉ số đều chốt tuần dưới mức tham chiếu và thanh khoản ở mức thấp. Phiên cuối tuần 12/4, VN-Index đứng ở mức 982,90 điểm, giảm 6,36 điểm (-0,64%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm nhẹ 0,17 điểm (-0,16%), xuống mức 107,70 điểm; UPCOM-Index giảm 0,29 điểm (-0,51%) xuống 56,64 điểm. 

Thanh khoản thị trường sụt giảm so với tuần trước đó với giá trị giao dịch trên 4.100 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại bán ròng nhẹ gần 64 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong cả tuần qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới lần thứ 2 trong năm nay, cảnh báo tới các nền kinh tế lớn là Mỹ, Eurozone và Nhật Bản đang ngày một giảm tốc mạnh hơn. Tuy nhiên, IMF vẫn cho rằng các khu vực sẽ phục hồi tốc độ tăng trưởng kể từ nửa sau của năm 2019 khi những rủi ro địa chính trị được xoa dịu.

Mỹ trong những ngày vừa qua đã tuyên bố đánh thuế lên hàng hóa nhập khẩu từ EU với tổng giá trị lên tới 11 tỷ USD, khi cho rằng khối này đang làm lợi từ thương mại với Mỹ và hỗ trợ cho Airbus để cạnh tranh với Boeing. Mỹ cũng đón nhận nhiều chỉ báo kinh tế tích cực trong tuần này, đặc biệt các chỉ số giá cho thấy mức tăng rất tích cực trong tháng 3.

Tại châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu ECB không thay đổi mức lãi suất chính sách 0,0% và đưa ra thông điệp sẽ duy trì mức lãi suất này cho tới hết năm tài khóa 2019 nhằm hỗ trợ kinh tế và lạm phát.

EU trong tuần nhất trí cho Anh gia hạn Brexit tới 31/10 cùng một số quy định kèm theo, trong đó có việc sẽ không được đàm phán lại về thỏa thuận Brexit đã thông qua vào tháng 11/2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.450