07:30 | 05/12/2019

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/12

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 1.944 tỷ đồng. VN-Index tăng 12,47 điểm (+1,31%) lên 965,9 điểm; HNX-Index tăng 1,39% lên 102,47 điểm và UPCOM-Index tăng 0,68% lên 55,91 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức khá cao. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh hơn 201 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/12
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/12

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 4/12, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.159 VND/USD, tăng trở lại 3 đồng so với phiên trước đó. Theo đó, tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.804 VND/USD. Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.175 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.170 VND/USD, giảm nhẹ 01 đồng so với phiên 3/12. Tỷ giá trên thị trường tự do giảm mạnh 30 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.180 - 23.210 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng phiên hôm qua, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm nhẹ 0,02 - 0,03 điểm phần trăm ở các các kỳ hạn ngắn trong khi tăng 0,04 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 4,03%; 1 tuần 4,15%; 2 tuần 4,25% và 1 tháng 4,38%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở các kỳ hạn ngắn trong khi giảm 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 1,73%; 1 tuần 1,82%; 2 tuần 1,93%, 1 tháng 2,06%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở kỳ hạn 7 năm trong khi giữ nguyên ở kỳ hạn 10 năm và giảm ở các kỳ hạn còn lại, giao dịch tại: 3 năm 2,24%; 5 năm 2,33%; 7 năm 3,22%; 10 năm 3,54%; 15 năm 3,64%.

Nghiệp vụ thị trường mở ngày 4/12, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm chào thầu trên kênh cầm cố xuống mức 8.000 tỷ đồng vẫn với kỳ hạn 14 ngày, lãi suất 4,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được 5.897 tỷ đồng, trong ngày có 3.953 tỷ đồng đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 1.944 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tăng lên mức 46.744 tỷ đồng.

Thị trường trái phiếu ngày 4/12, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 5.008/5.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 91%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động được toàn bộ 4.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 30 năm huy động được 1.008/1.500 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn giảm từ 1 - 9 điểm so với phiên trước.

Thị trường chứng khoán sau nhiều phiên điều chỉnh liên tiếp, sắc xanh đã trở lại thị trường phiên hôm qua. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 12,47 điểm (+1,31%) lên 965,9 điểm; HNX-Index tăng 1,39% lên 102,47 điểm và UPCOM-Index tăng 0,68% lên 55,91 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức khá cao với tổng giá trị giao dịch ở mức gần 5.100 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh hơn 201 tỷ đồng trên cả ba sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Bộ Tài chính, tổng thu lũy kế cân đối ngân sách nhà nước thực hiện 11 tháng ước đạt 1.376,4 nghìn tỷ đồng, bằng 97,5% dự toán, tăng 11% so cùng kỳ năm 2018.

Về chi ngân sách nhà nước, luỹ kế chi 11 tháng đạt gần 1.261,9 nghìn tỷ đồng, bằng 77,3% dự toán, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, số chi đầu tư phát triển đạt gần 231,7 nghìn tỷ đồng, bằng 54% dự toán, giảm 3,3% so cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, số chi thường xuyên đạt 895,67 nghìn tỷ đồng, bằng 89,6% dự toán, tăng 6% so cùng kỳ năm 2018.

Tin quốc tế

PMI lĩnh vực phi sản xuất của Mỹ ở mức 53,9% trong tháng 11, thấp hơn mức 54,7% của tháng 10, đồng thời thấp hơn mức 54,5% theo dự báo của các chuyên gia.

Lĩnh vực phi nông nghiệp tại Mỹ chỉ tạo ra thêm 67 nghìn việc làm trong tháng 11, thấp hơn rất nhiều so với mức 121 nghìn việc làm mới của tháng 10 và mức 137 nghìn theo dự báo.

PMI chính thức lĩnh vực dịch vụ của nước Anh ở mức 49,3 điểm trong tháng 11, cao hơn mức 48,6 điểm theo khảo sát ban đầu. Tuy nhiên, mức PMI này vẫn thấp hơn mức 50,0 điểm của tháng 10 và cho thấy sự thu hẹp ở tháng vừa qua.

GDP Úc tăng trưởng 0,4% trong quý III, thấp hơn mức tăng 0,6% của quý trước đó, đồng thời thấp hơn mức tăng 0,5% theo dự báo. Như vậy, GDP nước này đã tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số PMI của lĩnh vực dịch vụ nước này ở mức 53,7 điểm trong tháng 11, thấp hơn mức 54,2 điểm của tháng trước đó.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590