18:46 | 11/07/2019

Kinh tế nửa cuối năm đối mặt nhiều khó khăn

Nền kinh tế Việt Nam vượt qua nửa đầu năm 2019 với nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, nửa cuối năm được dự báo sẽ đứng trước nhiều thách thức, trong đó những nhân tố bất định đang khiến cho triển vọng kinh tế trở nên khó lường đoán.

WB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam, đạt 6,6% trong năm 2019
Kinh tế 6 tháng “vượt khó” thành công
EVFTA sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm 7,07 - 7,72%
GDP quý II/2019 giảm tốc, tăng 6,71%

Tăng trưởng khả quan giữa nhiều thách thức

Điểm lại tình hình kinh tế nửa đầu năm nay trong phát biểu khai mạc Tọa đàm Tổng quan kinh tế giữa kỳ 2019 diễn ra sáng nay,11/7, TS. Trần Thị Hồng Minh, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, nhấn mạnh: Tăng trưởng kinh tế đạt mức khá, GDP 6 tháng đầu năm đạt 6,76%. Tuy thấp hơn cùng kỳ năm 2018 (7,05%) nhưng vẫn là mức cao so với cùng kỳ giai đoạn 2011-2017.

Trong khi đó, ổn định vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát tốt với CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 2,64%, mức thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. Lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm. Tăng trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu tăng 14% trong năm 2019. Cân đối thu chi ngân sách nhà nước được đảm bảo…

Dòng vốn FDI từ nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến chế tạo. Chuyển dịch này, theo bà Minh, cho thấy các nhà đầu tư đang có xu hướng chuyển dịch sang Việt Nam để xây dựng những nhà máy chế biến mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều khó khăn và thách thức. Ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi. Xuất khẩu nông sản chịu áp lực cạnh tranh lớn và sự gia tăng các rào cản thương mại. Đáng chú ý, tăng trưởng chậm lại ở ngành công nghiệp chế biến và chế tạo. Sức cầu đối với mặt hàng điện tử, điện thoại giảm sút đáng kể…

Kinh tế nửa cuối năm chịu nhiều tác động

“Bước sang nửa cuối năm 2019, nhiều khó khăn, thách thức cũng đặt ra với điều hành kinh tế Việt Nam. Trong đó, một trong những thách thức quan trọng là xu hướng nới lỏng tiền tệ của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới.

Trong báo cáo vừa công bố, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bỏ ngỏ khả năng có thể giảm lãi suất trong thời gian tới. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vẫn giữ lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục và mới đây đã công bố một gói vay ưu đãi lớn dành cho các ngân hàng.

Tương tự, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) cũng giữ nguyên lãi suất ngắn hạn chủ chốt ở mức âm  tại cuộc họp tháng 6/2019, đồng thời quyết định tiếp tục mua trái phiếu chính phủ. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc PBOC đã hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 0,5 điểm phần trăm.

“Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang ảnh hưởng đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam”, TS. Đặng Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia bổ sung.

Ở trong nước, thuận lợi và khó khăn cũng đan xen. Một mặt, xuất nhập khẩu được thúc đẩy thông qua thực hiện và tham gia các FTA. Nhưng mặt khác, nguy cơ lạm phát vẫn còn hiện hữu do tác động của lộ trình tăng giá đối với một số dịch vụ Nhà nước quản lý giá như y tế, giáo dục. Rủi ro Mỹ áp thuế cao hơn gia tăng khi Việt Nam xuất siêu cao vào nước này…

Đề cập đến giải pháp, TS. Đặng Đức Anh đề xuất: tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư nước ngoài và đầu tư tư nhân; tăng cường biện pháp chống gian lận thương mại; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...

“Việc Chính phủ tiếp tục tập trung tiến trình cải thiện môi trường đầu tư cũng như tận dụng cơ hội từ các FTA sẽ là các yếu tố quan trọng quyết định cục diện kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm cũng như cả năm 2019”, TS. Trần Thị Hồng Minh nói.

Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo, tăng trưởng kinh tế quý III sẽ đạt 6,86%; quý IV đạt 6,88% và qua đó giúp tăng trưởng cả năm đạt 6,86%; chỉ số giá tiêu dùng bình quân 12 tháng so với năm trước tăng 3,13%; nhập siêu khoảng 1,81 tỷ USD...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740