12:15 | 27/02/2018

NHTW Hàn Quốc giữ nguyên lãi suất, tỏ ý không tăng nhanh theo Fed

NHTW Hàn Quốc (BOK) hôm thứ Ba (27/2) đã quyết định giữ nguyên lãi suất sau cuộc họp chính sách cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình của Thống đốc Lee Ju-yeol, do lo ngại rủi ro đè nặng lên triển vọng kinh tế cùng nỗi lo về khối nợ hộ gia đình.

NHTW Hàn Quốc giữ nguyên lãi suất do lo ngại lạm phát yếu
NHTW Hàn Quốc sẽ giữ nguyên lãi suất do đồng won tăng cao, lạm phát yếu
Ai sẽ thay thế Thống đốc NHTW Hàn Quốc Lee Ju-yeol?
Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc

Quyết định giữ nguyên lãi suất Repos kỳ hạn 7 ngày ở mức 1,5% của BOK đã được toàn bộ 14 nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát của Reuters dự báo trước.

Đáng chú ý, phát biểu tại buổi họp báo diễn ra sau đó, Thống đốc Lee nói rằng BOK không bắt buộc phải đi theo làn song rút lui các chính sách kích thích trên toàn cầu; đồng thời củng cố quan điểm thống nhất rằng thắt chặt tiền tệ của BOK sẽ được thực hiện dần dần sau khi ngân hàng đã thực hiện tăng lãi suất lên 1,5% vào tháng 11/2017.

Ủy ban chính sách tiền tệ của Fed sẽ nhóm họp vào ngày 20 và 21/3, cuộc họp được các thị trường đặt cược lớn là Fed sẽ tăng tiếp lãi suất sau lần tăng vào tháng 12.

“Chính sách tiền tệ của Hàn Quốc không được quyết định dựa trên chính sách tiền tệ của Mỹ. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ đưa ra những quyết định chính sách của chúng tôi một cách toàn diện bằng cách xem xét đến nền kinh tế, lạm phát và chính sách tiền tệ của Mỹ”, Lee cho biết sau quyết định về lãi suất cuối cùng trước khi nhiệm kỳ của ông kết thúc vào tháng 3.

Ông cũng tái khẳng định rằng nguy cơ dòng vốn lớn chảy khỏi Hàn Quốc không đáng kể, ngay cả khi lãi suất của Mỹ tăng cao hơn của Hàn Quốc.

“Có vẻ Lee đã thận trọng hơn với những phát biểu của mình, nhiều hơn so với những lần khác vì đó là lần cuối cùng (quyết định về lãi suất) của ông, loại bỏ nỗi lo rằng nếu ông ấy đưa ra bất kỳ sự rõ ràng nào về động thái chính sách trong tương lai, nó có thể hạn chế dư địa chính sách đối với người kế nhiệm”, Kang Seung-won - một nhà phân tích thu nhập cố định tại NH Investment & Securities cho hay.

Tuy nhiên, 8 trong số 14 nhà kinh tế được khảo sát dự kiến ​​BOK sẽ tăng lãi suất vào tháng 5, trong khi những người khác cho rằng lần tăng lãi suất tiếp theo sẽ muộn hơn.

Tại buổi họp báo, Lee cũng thừa nhận những thách thức từ các chính sách thương mại của Mỹ, cho biết các ngành công nghiệp của Hàn Quốc có thặng dư thương mại lớn với Mỹ sẽ gặp khó khăn nhất.

“Ví dụ, tôi nghĩ chúng ta có thể nói rằng ngành công nghiệp ô tô và thép sẽ đại diện cho điều đó”, Lee nói.

Bộ Thương mại Mỹ đã khuyến cáo Tổng thống Donald Trump áp đặt các biện pháp kiềm chế đối với nhập khẩu thép, kể cả từ Hàn Quốc, sau khi đã đánh thuế cao hơn đối với máy giặt và tấm pin mặt trời vào tháng Giêng.

Bên cạnh đó, việc đồng won hàn Quốc mạnh lên cũng có thể làm tổn thương khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Hàn Quốc.

Thống đốc Lee cũng cho biết, kế hoạch cắt giảm một trong những nhà máy sản xuất tại Hàn Quốc của General Motors không đảm bảo cho sự thay đổi về triển vọng kinh tế của BOK.

Nhưng những điều không chắc chắn nêu trên lại là những thách thức đối với Thống đốc mới của BOK, người sẽ được Tổng thống Moon Jae-in triệu tập trước khi nhiệm kỳ của ông Lee kết thúc vào ngày 31/3.

Theo đó, Thống đốc mới của BOK có thể sớm phải đối mặt với triển vọng tăng lãi suất mà không làm suy yếu tăng trưởng kinh tế hoặc làm suy yếu tiêu dùng của các hộ gia đình vốn đã bị mắc nợ kỷ lục.

 

Còn nhớ, tại cuộc họp diễn ra tháng 11/2017, BOK đã tăng lãi suất cơ bản thêm 25 điểm cơ bản, lần tăng lãi suất đầu tiên trong 6 năm. BOK cũng dự báo nền kinh tế có khả năng mở rộng 3,0% trong năm nay, giảm nhẹ so với 3,1% của năm ngoái.

BOK cho biết, Hội đồng chính sách “dự đoán rằng đầu tư sẽ chậm lại, nhưng xu hướng tăng tiêu dùng ổn định sẽ tiếp tục, phần lớn là do sự cải thiện về thu nhập hộ gia đình, và xuất khẩu cũng sẽ duy trì được sự vận động thuận lợi nhờ sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu”.

Tuy nhiên, lạm phát tại Hàn Quốc giảm xuống 1% trong tháng 1, mức thấp nhất trong 17 tháng, giảm so với mức tăng 1,5% của tháng trước và thấp hơn mức 1,3% mà các nhà kinh tế tham gia cuộc thăm dò ý kiến ​​của Reuters dự báo.

Các chỉ số này đã củng cố sự đồng thuận rộng rãi rằng, việc thắt chặt tiền tệ của BOK sẽ được thực hiện dần dần trong năm nay do tăng trưởng nhờ xuất khẩu và đầu tư sẽ chậm lại sau khi mở rộng nhanh chóng năm 2017.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.735 22.805 27.564 27.893 31.343 31.845 206,32 210,25
BIDV 22.735 22.805 27.598 27.918 31.399 31.865 207,09 210,15
VietinBank 22.723 22.803 27.505 27.883 32.311 31.871 206,79 210,19
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.581 27.940 31.490 31.900 207,77 210,47
ACB 22.740 22.810 27.562 27.908 31.552 31.868 207,67 210,28
Sacombank 22.735 22.817 27.606 27.961 31.548 31.903 207,67 210,71
Techcombank 22.710 22.805 27.315 28.043 31.124 31.976 206,21 211,70
LienVietPostBank 22.720 22.820 27.527 27.988 31.521 31.945 207,37 211,00
DongA Bank 22.740 22.810 27.610 27.920 31.500 31.880 206,30 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
Vàng SJC 5c
36.550
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.200
36.800