10:27 | 13/02/2018

Nhu cầu vàng toàn cầu giảm 7% trong năm 2017

Theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới (WGC), mặc dù nhu cầu vàng toàn cầu phục hồi trở lại trong những tháng cuối năm 2017, tăng 6% trong quý 4 so với năm trước lên 1,095.8 tấn. Tuy nhiên nhu cầu vàng toàn cầu năm 2017 vẫn giảm 7% xuống còn 4.071,7 tấn.

Nhu cầu vàng toàn cầu giảm mạnh trong quý 3, thấp nhất trong 8 năm
Nhu cầu vàng toàn cầu tăng 2% trong năm 2016
Nhu cầu vàng thế giới tiếp tục giảm nhẹ trong năm 2015

Theo WGC, nhu cầu vàng trang sức tăng 4% trong năm qua lên 2.135,5 tấn, ghi nhận năm tăng đầu tiên kể từ năm 2013. Trong đó chủ yếu nhờ nhu cầu vàng trang sức tại Trung Quốc và Ấn Độ - hai quốc gia tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới - tăng khá mạnh trong bối cảnh giá vàng đứng ở mức thấp và tình hình kinh tế được cải thiện. Tuy nhiên, nhu cầu vàng trang sức tại hai nước này vẫn thấp hơn mức trung bình lịch sử.

Nhu cầu sử dụng vàng trong điện thoại thông minh và ôtô cùng kéo tăng nhu cầu vàng trong công nghệ lần đầu tiên kể từ năm 2010, tăng 3% lên 332,8 tấn.

Tuy nhiên chừng đó chưa đủ để bù đắp cho những sụt giảm ở các khu vực khác. Cụ thể, mặc dù dòng tiền vẫn chảy ròng vào vàng từ các quỹ ETF trong năm 2017, song chỉ đạt 202,8 tấn trong năm 2017, chỉ bằng khoảng một phần ba so với dòng vào ròng của năm 2016, vào khoảng 546,8 tấn.

Trong khi nhu cầu vàng thanh và đồng tiền vàng giảm 2% xuống còn 1.029,2 tấn. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm mạnh về nhu cầu của Mỹ xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua là 39,4 tấn, đã xóa đi mức tăng khá cao ở Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.

Đáng chú ý, mua ròng vàng của các ngân hàng trung ương chỉ đạt có 371,4 tấn trong năm 2017, giảm 5% so với năm 2016. Trong đó, các ngân hàng trung ương của Nga và Thổ Nhĩ kỳ là hoạt động tích cực nhất. Đặc biệt Nga đã tăng dự trữ vàng thêm 224 tấn trong năm qua, năm thứ 3 liên tiếp dự trữ vàng của Nga tăng hơn 200 tấn.

Về nguồn cung vàng, WGC cho biết, tổng cung vàng toàn cầu trong năm 2017 là 4.398,4 tấn, giảm 4% so với năm 2016. Trong đó, mặc dù sản lượng khai thác mỏ đạt mức cao kỷ lục 3,268.7 tấn, song nguồn cung vàng tái chế lại giảm khoảng 10% xuống còn 1.160 tấn. “Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát môi trường nghiêm ngặt ở Trung Quốc dẫn tới sự sụt giảm 9% trong sản xuất mỏ quốc gia”, WGC cho biết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.080 26.667 26.986 29.878 30.357 201,54 208,12
BIDV 23.015 23.085 26.677 26.986 29.904 30.345 201,72 204,73
VietinBank 23.004 23.084 26.609 26.987 29.831 30.391 201,66 205,06
Agribank 23.005 23.080 26.656 26.990 29.904 30.338 201,71 204,90
Eximbank 23.000 23.090 26.669 27.015 29.990 30.380 202,63 205,26
ACB 23.020 23.090 26.675 27.009 30.087 30.386 202,67 205,20
Sacombank 23.009 23.101 26.707 27.068 30.067 30.424 202,55 206,20
Techcombank 22.990 23.090 26.440 27.149 29.672 30.497 201,26 206,42
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.607 27.058 30.033 30.441 201,97 205,56
DongA Bank 23.020 23.090 26.690 26.990 30.010 30.370 201,20 205,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.660
36.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.660
36.840
Vàng SJC 5c
36.660
36.860
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.650
35.350