12:02 | 12/07/2018

Thị trường bất động sản Hà Nội khởi sắc

Báo cáo mới nhất về thị trường bất động sản Hà Nội quý II/2018 của Savills cho thấy sự lạc quan ở nhiều phân khúc khác nhau.

Hoạt động thị trường căn hộ để bán

Bà Đỗ Thu Hằng, Phó giám đốc Nghiên cứu Savills Hà Nội cho biết, trong quý II/2018, thị trường bất động sản Hà Nội lại chứng kiến sự sôi động của phân khúc căn hộ để bán với sự góp mặt của 11 dự án mới và 31 dự án đã mở bán, bổ sung thêm 9.760 căn, tăng 77% theo quý và 43% theo năm, đưa tổng nguồn cung toàn thị trường lên 28.000 căn.

Số căn bán được cũng tăng 31% theo quý và 11% theo năm. Giá bán sơ cấp có xu hướng giảm, trung bình đạt 1.160 USD/m2, giảm 7% theo quý và 12% theo năm. Một số điểm đáng lưu ý ở phân khúc này là thanh khoản có sự phân hóa rõ rệt: hạng B (tầm trung) có ưu thế về thanh khoản khi chiếm đến 59%, hạng C (giá rẻ) là 38%, hạng A (cao cấp) là 4%.

Trong nửa cuối 2018, hơn 14.300 căn hộ sẽ gia nhập thị trường từ 20 dự án, trong đó hầu hết là các căn hộ hạng B và hạng C. Khách mua tập trung vào các căn hộ có diện tích từ 60 - 75 m2 để đầu tư ở khu vực Cầu Giấy, Tây Hồ, Từ Liêm.

“Giai đoạn này đang là thị trường của người mua, nên với các chủ đầu tư việc xác định khách hàng mục tiêu là rất quan trọng. Đặc biệt, với các chủ đầu tư phía Tây, việc tính toán diện tích và khách hàng mục tiêu có vai trò quyết định thành bại của dự án”, bà Hằng chia sẻ.

Văn phòng cho thuê quý II tiếp tục ghi nhận mức tăng cả ở nguồn cung và giá thuê. Tổng nguồn cung đạt trên 1,6 triệu m2, tăng 1,8% theo năm, giá thuê gộp trung bình tăng 2,4% theo quý, 4,3% theo năm. Hạng A tiếp tục có công suất cho thuê tốt nhất với đa số nguồn cung đến từ khu vực nội thành và phía Tây. Giá thuê bình quân đạt 34 USD/m2/tháng.

Nửa cuối 2018, thị trường sẽ chào đón 10 dự án mới cung cấp gần 155.000 m2, tất cả đều đang được hoàn thiện và hầu hết nằm ở khu vực phía Tây. Năm 2019, nguồn cung 120.000 m2 từ 12 dự án khác dự kiến sẽ ra mắt thị trường.

Về thị trường biệt thự liền kề, báo cáo của Savills cho biết trong quý II, tổng nguồn cung thị trường biệt thự, liền kề đạt 42.609 căn, tăng 3,7% theo quý và 12,8% theo năm. Quận Hà Đông tiếp tục dẫn đầu với 23% thị phần, theo sau là Huyện Hoài Đức.

Thị trường có hơn 1.000 căn được tung bán, đến từ 7 dự án mới và 8 dự án mở bán thêm, tăng 59% so với quý trước nhưng giảm 38% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng nguồn cung, nhà phố chiếm 87%, liền kề chiếm 49%.

Theo lãnh thổ, quận Hoàng Mai dẫn đầu nguồn cung mới, theo sau là quận Long Biên. Tổng cộng trong 6 tháng đầu năm, nguồn cung mới toàn Hà Nội đạt 1.700 căn, bằng 64% cùng kỳ năm trước.

Về tình hình hoạt động, Savills đánh giá thị trường biệt thự liền kề Hà Nội hoạt động tích cực với tỷ lệ hấp thụ đạt 34%, tăng 9,2 điểm % so với quý trước và tăng 1,3 điểm % so với cùng kỳ.

“Lượng giao dịch thành công đạt 1.187 căn, tăng 48% so với quý trước, trong đó, nhà liền kề chiếm 44%, biệt thự chiếm 36%, shophouse chiếm 20% tổng căn bán được. Long Biên, Từ Liêm và Hoàng Mai là 3 quận bán được nhiều căn nhất thị trường”, bà Hằng cho biết.

Chia những lo ngại về bong bóng bất động sản, Phó giám đốc Nghiên cứu Savills Hà Nội cho rằng, thị trường vẫn đang giữ được sự ổn định, đặc biệt ở phân khúc căn hộ để bán.

"Người ta hay nói nhiều về chu kỳ 10 năm, nhưng theo chúng tôi, với những nước như Việt Nam, thì chu kỳ này ngắn hơn, chỉ khoảng 7 năm. Nếu lấy mốc là 2014, thời điểm thị trường có sự phục hồi, phát triển trở lại thì hiện tại, chúng ta mới ở giữa chu kỳ", bà Hằng chia sẻ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.245 23.335 26.173 26.644 29.789 30.266 198,29 205,30
BIDV 23.245 23.335 26.164 26.527 29.813 30.283 202,04 205,51
VietinBank 23.234 23.334 26.135 26.560 29.751 30.311 201,79 205,54
Agribank 23.235 23.315 26.160 26.512 29.814 30.260 202,05 206,00
Eximbank 23.220 23.320 26.154 26.503 29.877 30.277 202,61 205,32
ACB 23.250 23.330 26.186 26.524 29.989 30.300 202,83 205,44
Sacombank 23.240 23.333 26.215 26.570 29.972 30.335 202,78 205,84
Techcombank 23.220 23.335 26.921 26.644 29.558 30.399 201,42 206,65
LienVietPostBank 23.220 23.320 26.101 26.559 29.925 30.338 202,35 206,01
DongA Bank 23.250 23.330 26.210 26.510 29.920 30.280 201,40 205,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.340
36.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.340
36.500
Vàng SJC 5c
36.340
36.520
Vàng nhẫn 9999
34.700
35.100
Vàng nữ trang 9999
34.350
35.050