11:05 | 17/07/2019

Thị trường vàng 17/7: Vàng suy yếu trước sức ép từ đồng USD

Giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu sau khi dữ liệu bán lẻ tốt hơn dự kiến của Mỹ hạ thấp kì vọng về việc cắt lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), đồng thời thúc đẩy đồng USD tăng giá.

Thị trường vàng 16/7: Vàng trong nước và thế giới diễn biến trái chiều
Thị trường vàng 15/7: Vàng trong nước giảm giá phiên đầu tuần
Thị trường vàng 13/7: Vàng trong nước theo sát diễn biến thế giới

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 10h sáng nay (17/7) giá vàng thế giới giao ngay giảm 1,4 USD/oz (0,1%) xuống mức 1.404,2 USD/oz. Giao dịch trong phiên dao động quanh ngưỡng 1.400,5 - 1.416,8 USD/oz.

Giá hợp đồng vàng tương lai hiện đứng ở mức 1.406,3 USD/oz, giảm 4,9 USD/oz (0,35%). Sau 3 phiên liên tiếp đứng ngoài thị trường, Quỹ SPDR GoldTrust đã bán 1,17 tấn vàng vào hôm qua, giảm lượng nắm giữ xuống mức 799,37 tấn.

Giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu sau khi dữ liệu bán lẻ tốt hơn dự kiến của Mỹ hạ thấp kì vọng về việc cắt lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), đồng thời thúc đẩy đồng USD tăng giá.

"Các thị trường vàng phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố vĩ mô để có sự hỗ trợ tăng giá cao hơn. Nếu chúng ta tiếp tục thấy dữ liệu mạnh hơn như số lượng bán lẻ, điều đó sẽ tạo ra tác động tiêu cực cho kim loại quí", ông Suki Cooper, nhà phân tích kim loại quí tại Standard Chartered Bank nhận định và cho biết thêm: "Sự kiện quan trọng mà thị trường đang theo dõi là cuộc họp của Ủy ban thị trường mở Liên bang FOMC tháng 7 và kì vong hạ lãi suất của Fed, tuy nhiên chúng tôi thấy những dự đoán đã giảm đi một chút".

Tỷ giá USD đã tăng 0,5% so với các đối thủ lớn nhờ dữ liệu lạc quan của Mỹ, và khiến tài sản lưu trữ bằng đồng bạc xanh trở nên đắt hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ vàng bằng các loại tiền tệ khác.

"Có thể thấy sự trở lại của kịch bản tin tức tiêu cực, một phần trong đó là dữ liệu mạnh, có thể khiến Fed không thể giảm lãi suất, theo đó ảnh hưởng lớn đến thị trường", nhà phân tích thị trường cấp cao của Craig OANDA Craig Erlam nói.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Washington vẫn còn một chặng đường dài để đi đến kết thúc thỏa thuận thương mại với Trung Quốc nhưng có thể áp dụng các biện pháp thuế quan nếu cần.

Ông Trump trước đó nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại tại Trung Quốc cho thấy thuế quan của Mỹ đang có tác động lớn, và Washington có thể tiếp tục gây thêm áp lực.

"Sự suy giảm của giá vàng là do kết hợp của tăng trưởng kinh tế yếu ở Trung Quốc cùng với hoạt động bán tháo kĩ thuật khi vàng đạt đến mức kháng cự mạnh", ông David Meger, giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures cho biết.

Tại thị trường vàng trong nước, tính đến 10h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 39,00 - 39,20 triệu đồng/lượng, giảm 30 nghìn đồng/lượng ở cả giá mua và giá bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Tương tự, tại Hà Nội, giá vàng SJC hiện đang ở mức 39,00 - 39,22 triệu đồng/lượng, giảm 30 nghìn đồng/lượng ở cả giá mua và giá bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI hiện niêm yết giá vàng tại TP.HCM ở mức 39,00 - 39,25 triệu đồng/lượng, giảm 80 nghìn đồng/lượng ở giá mua trong khi giữ nguyên giá bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Giá vàng tại khu vực Hà Nội được Tập đoàn này niêm yết ở mức 39,00 - 39,25 triệu đồng/lượng, giảm 80 nghìn đồng/lượng ở giá mua trong khi tăng 50 nghìn đồng/lượng ở giá bán so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Như vậy, vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng hiện có giá 39,34 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, cao hơn khoảng 140 nghìn đồng/lượng so với vàng trong nước.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450