09:29 | 25/09/2017

Vòng xoáy vay - trả không dễ thoát ra

Đầu tư công đi kèm với nợ công tăng cao và trở thành nợ xấu tạo ra gánh nặng cho xã hội.

Giải ngân chậm - điểm nghẽn của tăng trưởng
Xây dựng nông thôn mới vấp vốn đầu tư công giải ngân chậm
Hiệu quả đầu tư công còn thấp

“Đầu tư công của Việt Nam vào khoảng 8-10% GDP – cao gấp đôi các quốc gia ASEAN và gấp 3 thế giới. Nhưng Việt Nam phải bỏ ra 5,2 USD đầu tư để có được 1 USD GDP tăng thêm, trong khi đó, ở khu vực chỉ là 3 – 4USD. Như vậy hiệu quả, chất lượng và tác động của đầu tư công ở Việt Nam thấp hơn khu vực”, ông Aaron Batten kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á nhận xét.

Vấn đề chất lượng và hiệu quả đầu tư công không cao tuy đã được chỉ ra từ rất lâu nhưng vẫn là vấn đề thời sự, và cũng đang là một trong những điểm nhấn trong nỗi lo cho sự bền vững của nền tài chính công.

 Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân

Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, vốn đầu tư từ NSNN chỉ được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng, cấp bách, có tác động lan tỏa, các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà khu vực tư nhân không thể làm hoặc không muốn làm; đồng thời khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, kém hiệu quả. Việc thực hiện các dự án đầu tư công được quản lý chặt chẽ hơn trong một kế hoạch trung hạn với nguồn lực ngân sách đã được xác định.

Nhưng đầu tư công chưa thực sự thực hiện chức năng chính là xây dựng các nền tảng phát triển và tăng trưởng, vì thế dẫn đến các bất ổn vĩ mô, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả nền kinh tế. Dự án dở dang nhiều, thời gian thi công kéo dài, chậm tiến độ, tình trạng thất thoát, lãng phí, đội chi phí, phân bổ vốn dàn trải, thiếu trọng điểm vẫn còn và diễn biến phức tạp.

Nhiều công trình xuống cấp nhanh chóng, buộc phải sửa chữa, gây lãng phí lớn… Một số bộ, ngành trung ương và địa phương vẫn đề xuất khởi công dự án mới mà chưa cân đối đủ nguồn vốn hoặc mức vốn bố trí quá thấp, không bảo đảm hoàn thành dự án theo đúng thời gian và tiến độ đã phê duyệt. Nợ đọng xây dựng cơ bản chưa được xử lý triệt để dẫn đến áp lực đối với điều hành và cân đối NSNN…

Kỷ luật, kỷ cương tài chính, trách nhiệm của người đứng đầu, cơ quan chuyên trách còn nhiều bất cập, dẫn đến việc thiếu minh bạch trong công tác thẩm định, lựa chọn, phân bổ dự án đầu tư công. Vì thế, dù tỷ lệ đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong thời gian qua lên tới 12%, cao hơn hẳn các quốc gia Đông Á khác, nhưng cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam vẫn bị đánh giá là yếu kém và là một trong ba nút thắt tăng trưởng chính của nền kinh tế.

Đầu tư công thiếu hiệu quả gây nên những hệ lụy không tốt cho nợ công và vấn đề phát triển bền vững của nền kinh tế. PGS.TS. Trần Kim Chung – Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, đầu tư công thiếu hiệu quả là một trong các nguyên nhân gây áp lực lớn lên nợ công. Nợ công tăng cao ở mức đáng báo động gây ra những nguy hiểm lớn cho nền kinh tế: Chính phủ chịu gánh nặng nợ rất lớn nhưng vẫn cần vốn đầu tư, buộc phải tiếp tục đi vay, sau đó là trả nợ. Vòng xoáy vay - trả nợ cứ thế lặp đi lặp lại, không dễ để thoát ra. Vay nhiều, nợ lớn, Chính phủ phải tăng thuế để có nguồn trả nợ, làm giảm tỷ lệ tiền dành cho đầu tư phát triển, kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Ông Chung lo ngại nguy cơ về nợ xấu khi Việt Nam phải chi trả lãi cao hơn so với các quốc gia phát triển tương đương khi nợ phải trả hàng năm lớn hơn nhiều so với các quốc gia khác. Nợ ngoại tệ chiếm tỷ trọng lớn trong nợ công càng khiến nền kinh tế sẽ khó giữ ổn định trước các biến động của thế giới và khu vực. Nếu đầu tư công đi kèm với nợ công tăng cao và trở thành nợ xấu thì không những không đạt được mục tiêu đầu tư, mà còn tạo ra gánh nặng cho xã hội.

Để đạt mục tiêu phát triển bền vững, PGS.TS. Bùi Tất Thắng - Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị: đầu tư công chỉ ưu tiên hỗ trợ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội lớn, quan trọng, thiết yếu, có tính lan tỏa trong các vùng, miền (giao thông, điện, nước, thủy lợi, thủy sản phục vụ đánh bắt xa bờ…; Tập trung nguồn lực cho những dự án, những vùng kinh tế động lực để nhanh chóng phát huy năng lực, tạo sức bật cho nền kinh tế và ưu tiên hơn cho các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lũ và các vùng còn nhiều khó khăn.

Vốn đầu tư từ NSNN chỉ là vốn “mồi” để khai thác tối đa các nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác; Cần mở rộng các phương thức đầu tư, đặc biệt là đầu tư theo hình thức đối tác công - tư , xã hội hóa rộng rãi đối với các dịch vụ công, nhất là trong các lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình dự án cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân ở nông thôn; Thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch vay, trả nợ công.

TS.Trần Kim Chung lưu ý thêm, việc hoàn thiện thể chế giám sát và đánh giá đầu tư công, tái cơ cấu đầu tư công cũng cần chú trọng tăng cường các biện pháp nâng cao hiệu quả, và sử dụng hết tiềm năng nguồn đầu tư công.

Kết quả đầu tư công:

- Hạ tầng giao thông đường bộ: Mở rộng Quốc lộ 1 từ Thanh Hóa đến Cần Thơ; nối thông tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên; hoàn thành 746 km đường cao tốc, đang tiếp tục đầu tư xây dựng 513 km.

- Hạ tầng hàng không: mở rộng cảng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh, Phú Quốc (xây mới), Liên Khương, Pleiku, Thọ Xuân. 

- Hạ tầng cảng; cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) và nhiều cảng khác, đưa tổng công suất các cảng lên khoảng 470 triệu tấn năm 2015… hoàn thành đầu tư cảng cửa ngõ quốc tế Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) và nhiều cảng khác, đưa tổng công suất các cảng lên khoảng 470 triệu tấn năm 2015, đang khẩn trương đầu tư cảng Lạch Huyện (Hải Phòng). 

- Hạ tầng năng lượng: Nhiều công trình lớn đã hoàn thành hoặc đang được xây dựng như Thủy điện Sơn La, Lai Châu, Nhiệt điện Duyên Hải, Vũng Áng I, Vĩnh Tân II; đưa điện lưới ra các đảo Phú Quốc, Lý Sơn, Cô Tô, Vân Đồn... đã tăng thêm 18,5 nghìn MW công suất nguồn; khoảng 7,6 nghìn km truyền tải các loại 500 kV, 220 kV và 37,4 nghìn MVA công suất các trạm biến áp.

- Hạ tầng thủy lợi: được tập trung đầu tư xây dựng và nâng cấp theo hướng đa mục tiêu, nhiều dự án trọng điểm, quy mô lớn ở miền Trung, Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long…

- Hạ tầng đô thị: đầu tư nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật như các trục giao thông hướng tâm, các đường vành đai, các nút giao lập thể tại các giao lộ lớn, tuyến tránh đô thị, đặc biệt ưu tiên là các vành đai, các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các công trình cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn cũng được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới.

- Hạ tầng các khu công nghiệp, khu kinh tế được các địa phương tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giải quyết tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu (nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, dịch vụ khám chữa bệnh...) cho lao động trong các khu công nghiệp; hệ thống hạ tầng thương mại phát triển nhanh; hạ tầng thông tin và truyền thông phát triển mạnh, đảm bảo hiện đại, rộng khắp, kết nối với quốc tế và từng bước hình thành siêu xa lộ thông tin.

- Hạ tầng giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch... được quan tâm đầu tư: (i) Nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ngành giáo dục được thực hiện, kể cả tại các vùng dân tộc thiểu số và vùng khó khăn, đến nay một số tỉnh, thành phố đã quy hoạch các khu đô thị đại học và triển khai thực hiện như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam, Hưng Yên... (ii) Các công trình hạ tầng y tế đang thi công được đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành, sớm đưa vào hoạt động; 5 bệnh viện hiện đại, kỹ thuật cao, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực đang được đầu tư xây dựng, góp phần giảm quá tải các bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện tuyến cuối; (iii) Các thiết chế văn hóa, thể thao từ trung ương đến địa phương được quan tâm đầu tư và tăng cường, một số công trình văn hóa, thể thao quy mô lớn kiến trúc đẹp được đầu tư xây dựng (nhà văn hóa, sân vận động...).

Các công trình kết cấu hạ tầng để xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh, đã thực sự phát huy tác dụng, bộ mặt nông thôn được đổi mới, đời sống nhân dân được nâng lên.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.080 26.667 26.986 29.878 30.357 201,54 208,12
BIDV 23.015 23.085 26.677 26.986 29.904 30.345 201,72 204,73
VietinBank 23.004 23.084 26.609 26.987 29.831 30.391 201,66 205,06
Agribank 23.005 23.080 26.656 26.990 29.904 30.338 201,71 204,90
Eximbank 23.000 23.090 26.669 27.015 29.990 30.380 202,63 205,26
ACB 23.020 23.090 26.675 27.009 30.087 30.386 202,67 205,20
Sacombank 23.009 23.101 26.707 27.068 30.067 30.424 202,55 206,20
Techcombank 22.990 23.090 26.440 27.149 29.672 30.497 201,26 206,42
LienVietPostBank 23.000 23.100 26.607 27.058 30.033 30.441 201,97 205,56
DongA Bank 23.020 23.090 26.690 26.990 30.010 30.370 201,20 205,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.660
36.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.660
36.840
Vàng SJC 5c
36.660
36.860
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.650
35.350