17:40 | 06/06/2018

WB nâng mức dự báo tăng trưởng của Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được WB dự báo có thể đạt mức 6,8% trong năm 2018.

Chính sách tỷ giá đang hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Xây dựng kế hoạch tăng trưởng kinh tế 6,8% trong năm 2019
Chính phủ thống nhất mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018 tối thiểu 6,7%

Báo cáo “Viễn cảnh tăng trưởng toàn cầu” của WB vừa công bố ngày 6/6 dự báo, Việt Nam có thể đạt được mức tăng trưởng 6,8% trong năm 2018, điều chỉnh tăng 0,3% so với mức 6,5% mà tổ chức này đưa ra trong báo cáo Cập nhật Kinh tế Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương vào tháng 4/2018. Đồng thời, WB nhận định, lạm phát dù đã tăng lên nhưng vẫn ở dưới mức mục tiêu đề ra của Chính phủ Việt Nam. 

Tuy nhiên về trung hạn, tăng trưởng kinh tế dự kiến sẽ giảm dần, chỉ quanh mức 6,6% và 6,5% cho các năm 2019 và 2020. Kết quả này có được là nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ của nông nghiệp và sản xuất định hướng xuất khẩu. Dòng vốn FDI sẽ tiếp tục chảy vào mạnh mẽ nhờ được hỗ trợ bởi triển vọng tăng trưởng và các nỗ lực chính sách để thu hút đầu tư nước ngoài.

Tương tự, trên bình diện toàn cầu, WB dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức 3,1% năm 2018 nhưng sau đó sẽ giảm tốc trong 2 năm tiếp theo do tăng trưởng giảm tại các nền kinh tế phát triển và tốc độ hồi phục tại các nền kinh tế mới nổi và xuất khẩu nguyên vật liệu đi dần theo chiều ngang.

Cụ thể, WB dự báo các nền kinh tế phát triển sẽ tăng trưởng 2,2% năm 2018, sau đó giảm xuống còn 2% năm 2019 do các ngân hàng trung ương sẽ cắt giảm dần kích cầu.

Trong khi đó, mức tăng trưởng chung tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển dự kiến sẽ tăng và đạt mức 4,5% năm 2018, sau đó lên 4,7% năm 2019 do tốc độ hồi phục tại các nước xuất khẩu nguyên vật liệu và giá nguyên vật liệu sẽ cân bằng dần sau đợt tăng giá năm nay.

Tuy nhiên, triển vọng này cũng phụ thuộc nhiều vào các rủi ro tiêu cực có xảy ra hay không. Như thị trường tài chính có khả năng sẽ bất ổn hơn nên mức độ ảnh hưởng lên các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển cũng tăng lên. Bên cạnh đó, tâm lý bảo hộ mậu dịch tăng lên, đồng thời các bất ổn chính sách và rủi ro địa chính trị cũng gia tăng.

“Nếu duy trì được mức tăng trưởng mạnh như đã thấy trong năm nay thì hàng triệu người có thể thoát nghèo, nhất là tại các nước tăng trưởng nhanh khu vực Nam Á”, ông Jim Yong Kim, Chủ tịch Nhóm WB nói và cho biết thêm: “Nhưng tăng trưởng chưa đủ để giải quyết vấn đề nghèo cùng cực tại một số nơi trên thế giới. Các nhà hoạch định chính sách cần tìm cách duy trì tăng trưởng dài hạn nhờ tăng năng suất và tạo thêm việc làm để đẩy nhanh quá trình xóa bỏ tình trạng nghèo đói và thúc đẩy chia sẻ thịnh vượng”.

Dài hạn hơn, báo cáo cảnh báo viễn cảnh giảm cầu toàn cầu về nguyên vật liệu có thể làm giảm giá nguyên vật liệu và tác động lên viễn cảnh tăng trưởng các nước xuất khẩu và lâu dài sẽ gây khó khăn cho 2/3 số nước đang phát triển phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên vật liệu.

Do đó, theo ông Shantayanan Devarajan, Giám đốc cao cấp về kinh tế phát triển của WB, điều đó càng đòi hỏi các nước phải đa dạng hóa kinh tế và tăng cường khung tài khóa và tiền tệ.

Báo cáo cũng cảnh báo, vấn đề nợ doanh nghiệp tăng tại một số nước sẽ gây quan ngại về ổn định tài chính và tác động lên tình hình đầu tư.

“Các nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển cần chuẩn bị tinh thần ứng phó với bất ổn trên thị trường tài chính khi các nền kinh tế phát triển tăng tốc bình thường hóa chính sách tiền tệ”, ông Ayhan Kose, Giám đốc Ban Viễn cảnh kinh tế của WB nói. “Nợ tăng làm cho các nước dễ bị tổn thương hơn trước viễn cảnh tăng lãi suất. Chính vì vậy càng cần phải tạo khoảng đệm để đối phó với các cú sốc về tài chính”.

Ngoài ra, báo cáo cũng nhận định, sau nhiều năm ảm đạm, dự báo tăng trưởng dài hạn đã ổn định trở lại và đây có thể là chỉ dấu cho thấy nền kinh tế toàn cầu cuối cùng đã thoát khỏi cái bóng của cuộc khủng hoảng tài chính một thập kỷ trước.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.830 22.900 26.283 26.597 30.787 30.264 203,56 208,91
BIDV 22.830 22.900 26.352 26.586 29.979 30.244 206,17 208,00
VietinBank 22.823 22.903 26.214 26.592 29.727 30.287 204,78 208,18
Agribank 22.825 22.900 26.262 26.581 29.812 30.231 204,93 208,11
Eximbank 22.820 22.910 26.261 26.603 29.887 30.276 205,22 207,89
ACB 22.840 22.910 26.281 26.609 29.984 30.283 205,38 207,95
Sacombank 22.837 22.910 26.300 26.663 29.950 30.313 205,63 208,71
Techcombank 22.810 22.910 26.015 26.720 29.550 30.370 204,20 209,51
LienVietPostBank 22.820 22.910 26.215 26.661 29.929 30.334 205,13 208,77
DongA Bank 22.840 22.910 26.290 26.610 29.890 30.270 204,10 208,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.720
36.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.720
36.900
Vàng SJC 5c
36.720
36.920
Vàng nhẫn 9999
35.750
36.150
Vàng nữ trang 9999
35.400
36.100