Bất động sản công nghiệp: Bức tranh tương phản 2 miền Nam - Bắc

08:38 | 08/10/2021

Tại phía Nam, thị trường đất công nghiệp trầm lắng do ảnh hưởng từ làn sóng Covid-19 lần thứ 4. Còn tại miền Bắc, trong quý III/2021, khu vực này vẫn sôi động với nhiều nguồn cung mới ở cả khu công nghiệp và nhà xưởng xây sẵn.

Khảo sát của Công ty JLL (Jone Lang Lasalle) Việt Nam cho thấy, tại phía Nam, thị trường đất công nghiệp trầm lắng do ảnh hưởng từ làn sóng Covid-19 lần thứ 4. Thị trường đất công nghiệp không có nguồn cung mới được triển khai trong quý III/2021, nguồn cung duy trì ở mức 25.220 ha. Nhà xưởng xây sẵn cũng tương đối ảm đạm với duy nhất một nguồn cung mới được tung ra thị trường, dự án được xây dựng từ quý I/2021. Tổng nguồn cung đạt khoảng 3,3 triệu m2.

bat dong san cong nghiep buc tranh tuong phan 2 mien nam bac
Ảnh minh họa

Bà Kim Xuân - Giám đốc Marketing JLL Việt Nam cho biết, trong khi nguồn cung ngưng trệ thì thị trường bất động sản công nghiệp phía Nam cũng không ghi nhận thêm giao dịch thuê mới đáng chú ý. Nguyên nhân được JLL Việt Nam đưa ra là do trong quý III, thị trường này đã phải hứng chịu những tác động to lớn do đại dịch gây ra. Tất cả các hoạt động giao thông bắt buộc phải tạm dừng khiến việc thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn. Các khu công nghiệp đang hoạt động cũng phải giảm sản lượng hoặc dừng sản xuất để phục vụ phòng chống dịch. Do đó, thị trường không ghi nhận giao dịch nào đáng chú ý ở cả lĩnh vực đất công nghiệp và lẫn nhà xưởng xây sẵn. Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp và nhà xưởng xây sẵn lần lượt duy trì ở mức 85% và 87%.

Trái ngược với thị trường bất động sản công nghiệp miền Nam, theo JLL Việt Nam, tại miền Bắc, trong quý III/2021, khu vực này vẫn sôi động với nhiều nguồn cung mới ở cả khu công nghiệp và nhà xưởng xây sẵn. Điển hình là Hưng Yên tiếp tục đón chào nguồn cung mới từ khu công nghiệp Phố Nối A mở rộng, với tổng diện tích là 93ha do Hòa Phát làm chủ đầu tư. Tại Bắc Ninh, khu công nghiệp Yên Phong 2C của Viglacera cũng đã hoàn thành giải phóng mặt bằng và tiến hành xây dựng cơ sở mặt bằng được 70% diện tích quy hoạch, nâng tổng diện tích đất công nghiệp cho thuê tại miền Bắc đạt khoảng 9.900 ha. Thị trường nhà xưởng xây sẵn cũng đón nhận thêm nguồn cung mới tại khu công nghiệp Nam Đình Vũ (Hải Phòng), nâng tổng nguồn cung lên 2,1 triệu m2 sàn.

Bà Kim Xuân nhận định, thị trường bất động sản khu công nghiệp miền Bắc trong quý vẫn đón nhận những thông tin tích cực, bất chấp diễn biến phức tạp của dịch Covid-19. Đặc biệt, nhờ khả năng chống dịch tốt và các biện pháp duy trì sản xuất ổn định, Hải Phòng đã đón nhận tin vui với dự án tăng vốn thêm 1,4 tỷ USD của LG để mở rộng sản xuất tại khu công nghiệp Tràng Duệ. Thị trường ở các tỉnh phía Nam Hà Nội như Thái Bình, hay phía Tây bắc Hà Nội như Phú Thọ, Vĩnh Phúc cũng sôi động với nhiều dự án lớn. Thị trường nhà xưởng xây sẵn cũng hoạt động ổn định, với tỷ lệ lấp đầy đạt 89%.

Việc các khu công nghiệp tại Bắc Ninh đã trở lại sản xuất từ tháng 7 và nguồn vốn FDI tiếp tục đổ vào khu vực, tập trung chủ yếu ở Hải Phòng và Bắc Ninh cũng đã giúp giá đất công nghiệp trung bình toàn khu vực tăng ở mức 6,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt 108 USD/m2/chu kỳ thuê. Giá thuê nhà xưởng xây sẵn duy trì đà tăng ở mức 4,7% so với cùng kỳ năm trước, đạt 4,6 USD/m2/tháng.

Theo bà Kim Xuân, hiện thị trường đang chứng kiến xu hướng các nhà đầu tư đẩy mạnh phát triển mô hình bất động sản phức hợp tại miền Bắc. Điển hình như Tập đoàn LH Hàn Quốc đang bày tỏ mong muốn đầu tư dự án công nghiệp, đô thị và dịch vụ phức hợp Đại Hưng quy mô 304 hécta, tổng mức đầu tư gần 500 triệu USD tại Hải Dương. Công ty IDICO dự kiến sẽ đầu tư thêm khu công nghiệp đô thị dịch vụ Vinh Quang với diện tích 495 ha tại Hải Phòng.

Hải Yến

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.200 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.950 23.190 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.939 23.199 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.730 22.940 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.950 23.160 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.960 23.160 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.980 23.200 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.934 23.185 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.990 23.190 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.010 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.750
61.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.750
61.450
Vàng SJC 5c
60.750
61.470
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.400
Vàng nữ trang 9999
51.400
52.100