Để sản xuất nông nghiệp bứt phá

07:00 | 08/01/2022

“Ngành nông nghiệp còn nhiều việc phải làm, mọi ngành hàng phải được tổ chức lại và quản lý theo chuẩn mực quốc tế. Chỉ có như vậy mới có thể hướng đến sự phát triển bền vững”, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan nhấn mạnh.

Đau đầu vì nạn cò lúa giả
Ngành nông nghiệp Việt Nam: Chuyển đổi số làm thay đổi tư duy quản lý, vận hành
Hiệu quả chuỗi liên kết trong nông nghiệp

Đạt kỷ lục xuất khẩu

Theo Bộ NN&PTNT, trong năm 2021, ngành nông nghiệp đã đạt được kết quả khả quan. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành đạt 2,58%. Xuất khẩu nông sản đạt 48,6 tỷ USD, vượt xa mục tiêu được Chính phủ giao. Lương thực, thực phẩm thiết yếu vẫn cung ứng kịp thời đến hàng chục triệu người dân tại các đô thị, trung tâm công nghiệp trong bối cảnh phải giãn cách xã hội. Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp số… đã được nhiều doanh nghiệp quan tâm và lan tỏa, làm thay đổi tích cực cách thức tiếp cận nông nghiệp truyền thống.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan chia sẻ, 2021 là một năm đầy biến động trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Những thành tích mà ngành nông nghiệp đạt được trong năm qua là rất đáng tự hào. Đặc biệt, trong năm 2021, ngành nông nghiệp đã vượt qua những đắn đo, mạnh mẽ tìm kiếm những điều mới hơn, mô hình mới hơn, cách tiếp cận mới hơn. Ngành đã từng bước mở rộng không gian phát triển, chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, chuyển từ “tư duy quản lý” sang “tư duy hỗ trợ, kiến tạo” như Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo.

Ngành nông nghiệp cần tìm được lời giải thỏa đáng để phát triển bền vững

Tuy nhiên, trong bối cảnh một thế giới đầy biến động, bất định, phức tạp và có phần mơ hồ, mà đại dịch Covid-19 là một minh chứng, nông nghiệp lại đứng trước nhiều thách thức mới: biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan; biến động thị trường và những rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế; biến chuyển xu thế tiêu dùng và cách tiếp cận nền nông nghiệp xanh, minh bạch, trách nhiệm và bền vững.

Tất cả cho thấy còn rất nhiều việc phải làm, phải làm đúng và làm ngay để nông nghiệp ngày thêm bền vững.

Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Minh Phú cho biết, năm 2021, Minh Phú chế biến xuất khẩu được hơn 53 nghìn tấn tôm, đạt kim ngạch 657 triệu USD, giảm 1,81% về lượng nhưng tăng 11,3% về giá trị. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phát triển ngành thuỷ sản, đặc biệt ngành tôm cho hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, an toàn sinh học, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh...? Thực tế hiện nay ngành này đang có dấu hiệu phát triển quá nóng, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, môi trường đất, nước. Việc phát triển manh mún, nhỏ lẻ khiến giá thành sản xuất cao, kém cạnh tranh.

Có thể thấy ở Ecuador, giá thành sản xuất tôm chỉ bằng 1/2-1/3 của Việt Nam, người nuôi tôm chủ động được con giống. Hay với Ấn Độ, giá thành tôm nuôi thấp hơn 20-30% so với Việt Nam. Điều này cho thấy, nếu không có sự thay đổi thì 5-10 năm tới, Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh được với các quốc gia này.

Trước thực trạng trên, ông Quang kiến nghị cần quy hoạch phát triển ngành tôm theo hướng "thuận thiên", bền vững, dựa trên nền tảng số, đảm bảo lợi nhuận tốt, bền vững cho mọi đối tác tham gia, người nuôi tôm làm giàu mảnh đất của mình. Trong đó, cần quy hoạch đầu tư phát triển nguồn tôm giống, quy hoạch vùng nuôi tôm rừng, quy hoạch vùng tôm lúa...

Hàng loạt nhiệm vụ trong năm 2022

Đại diện cho ngành lúa gạo, ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho hay, năm nay kim ngạch xuất khẩu gạo của doanh nghiệp này tăng hơn 60% so với năm 2021 nhờ tận dụng tốt cơ hội từ thị trường thế giới. Tuy vậy, công ty vẫn luôn đau đáu với câu chuyện làm thế nào để gạo Việt Nam đi sâu vào các thị trường khó tính, định vị được thương hiệu. Sản phẩm gạo của Việt Nam sang thị trường EU mới chủ yếu phân phối ở cửa hàng của người châu Á mà chưa vào được các hệ thống phân phối bán lẻ lớn.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan cho biết, nhiệm vụ của ngành trong năm 2022 sẽ là chuẩn hóa vùng nguyên liệu, tổ chức lại chuỗi cung ứng từ hợp tác xã đến doanh nghiệp, thông suốt liên kết tiêu thụ nội địa và xuất khẩu nông sản. Ngành nông nghiệp phải có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư hạ tầng logistics nông nghiệp, nông thôn. Phải tăng tỷ trọng nông sản được sơ chế, bảo quản, chế biến, vừa tạo ra giá trị gia tăng cao, vừa hạn chế rủi ro thị trường, khi chỉ bán nguyên liệu thô.

Cần phải xác định đúng vai trò của Hiệp hội ngành hàng, cộng đồng doanh nghiệp nông nghiệp trong dẫn dắt thị trường và tạo dựng chuỗi giá trị trong từng chuỗi ngành hàng. Hơn hết, tiềm năng còn rất lớn của thị trường nội địa với dân số gần 100 triệu dân, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tính hệ thống, chính quy, chuyên nghiệp cho ngành nông nghiệp, công thương.

Bên cạnh đó, cơn sốt biến động giá nguyên liệu, vật tư nông nghiệp đầu vào liên tục xuất hiện do còn lệ thuộc rất nhiều vào nguồn nhập khẩu từ bên ngoài. Điều đó cho thấy, cần phải quan tâm đến tăng cường sử dụng nguyên liệu nội địa, nguyên liệu thay thế phù hợp, hiệu quả. Các viện nghiên cứu khoa học cùng với các doanh nghiệp cần tham gia vào nhiệm vụ này. Đặc biệt, trong năm 2022, ngành thủy sản cũng cần tập trung để gỡ thẻ vàng từ phía Ủy ban châu Âu.

“Ngành nông nghiệp còn nhiều việc phải làm, mọi ngành hàng phải được tổ chức lại và quản lý theo chuẩn mực quốc tế. Chỉ có như vậy mới có thể hướng đến sự phát triển bền vững”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400