Dệt may Việt Nam: Nỗ lực thực hiện mục tiêu xuất nhập khẩu

09:37 | 30/12/2020

Với sự chỉ đạo chính xác, quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành và các địa phương trong việc phòng chống dịch Covid-19 năm 2020, nên Việt Nam là nước duy nhất trong Top 5 nước xuất khẩu dệt may thế giới không bị dừng sản xuất. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất giúp cho xuất khẩu dệt may của Việt Nam có mức suy giảm thấp nhất, riêng về mặt hàng quần áo vẫn nằm trong Top 5.

det may viet nam no luc thuc hien muc tieu xuat nhap khau Dệt may Việt Nam 2020: Sụt giảm chưa từng có và “cú ngược dòng” để đứng vững
det may viet nam no luc thuc hien muc tieu xuat nhap khau Thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may - da giày
det may viet nam no luc thuc hien muc tieu xuat nhap khau Cổ phiếu dệt may vượt khó

Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết, tổng cầu thế giới giảm tới hơn 22% (chỉ đạt 600 tỷ USD so với 740 tỷ USD năm 2019) và các quốc gia cạnh tranh đều có mức giảm 15-20%. Thậm chí ở quốc gia có cách ly dài thì giảm tới 30%. Theo báo cáo mới nhất của McKinsey, lợi nhuận ngành thời trang toàn cầu đã giảm 93%, hơn 10 thương hiệu chuỗi cung ứng và thương hiệu thời trang lớn phá sản. Khoảng 200.000 lao động trong các chuỗi cung ứng thời trang tại Mỹ đã mất việc làm.

Riêng ngành dệt may Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Vinatex cho biết, năm 2020 là năm đầu tiên sau 25 năm, xuất khẩu dệt may của Việt Nam tăng trưởng âm, chỉ đạt 35 tỷ USD thấp hơn 10,5% so với 39 tỷ USD năm 2019.

det may viet nam no luc thuc hien muc tieu xuat nhap khau
Xuất khẩu mặt hàng quần áo vẫn nằm trong Top 5 thế giới

Nhưng do không bị đứt đoạn sản xuất nên thị phần xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng, lần đầu đạt 20% tại thị trường Mỹ, trong đó nhiều tháng đứng ở vị trí số một về thị phần. Các hiệp định thương mại, nhất là EVFTA tuy không thể bù đắp được sự sụt giảm về kim ngạch nhưng cũng đã có những tác dụng đáng kể trong việc giảm thiểu thiếu hụt đơn hàng.

Cùng với đó, ngành dệt may đã chủ động ngay từ đầu năm khi chuỗi cung ứng nguyên liệu bị gián đoạn bằng nhiều giải pháp tổng hợp, dịch chuyển nguồn cung. Đồng thời, tham gia ngay từ đầu tháng 2 sản xuất các sản phẩm PPE phục vụ phòng dịch trong nước, đảm bảo nhu cầu, bình ổn giá, và từ tháng 3 đến tháng 6 đây là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động. Ngành đã xác định, việc quan trọng nhất là phải quyết tâm bảo vệ lực lượng lao động lành nghề và vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu, với mục tiêu phải đủ năng lực phục hồi ngay khi thị trường có dấu hiệu ấm lại. Chính với quan điểm đó, nên ngành dệt may và da giày đã cơ bản đảm bảo việc làm cho một lực lượng lao động rất lớn, lên đến hơn 4 triệu người, dù việc làm ít đi, thu nhập ít đi nhưng vẫn trên mức tối thiểu và không làm mất việc của người lao động, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Riêng với Tập đoàn Dệt May Việt Nam, năm 2020, tuy kim ngạch nhập khẩu giảm 10%, lợi nhuận giảm 15%, nhưng tiền lương chỉ giảm 4,5%, đạt trung bình 8,05 triệu đồng/người/tháng; giữ đủ việc làm cho 150.000 lao động; giảm giờ làm trên 12%, tiền lương thực tế theo giờ tăng trên 8%; đặc biệt chưa phải nhận các khoản trợ cấp cho lao động để giữ được vị thế của DN trong chuỗi cung ứng.

Theo các dự báo, sớm nhất thì đến quý 2/2020, cầu của thị trường dệt may mới phục hồi bằng mức của năm 2019, nhưng cũng có thể đến quý 4/2023 mới đạt được. Như vậy, năm 2021, thị trường vẫn còn tiếp tục khó khăn, bất định, phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh trên thế giới. Nhiều đặc điểm mới của chuỗi cung ứng sẽ được thiết lập, theo đó, xu thế giảm giá chi phối toàn thị trường; hàng hóa đơn giản, thay thế hàng thời trang, dẫn tới nhiều năng lực sản xuất dư thừa nhưng năng lực mới lại thiếu hụt; kinh doanh online, giảm trung gian, đòi hỏi quản trị và giao tiếp số với toàn bộ các thành phần của chuỗi cung ứng.

Xác định rõ các thách thức của năm 2021, ngành dệt may Việt Nam và Tập đoàn Dệt may Việt Nam đặt kế hoạch đạt kim ngạch xuất khẩu 2021 tương đương với 2019, với mục tiêu cao cho năm 2021 là 39 tỷ USD, mục tiêu trung bình là 38 tỷ USD. Để đạt được, bên cạnh quyết tâm của DN, ông Trường nhấn mạnh, cần tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất. Đặc biệt là tiếp tục quan tâm giảm lãi suất vay dài hạn vì năm 2021 mới bắt đầu vào chu kỳ đầu tư đáp ứng các yêu cầu mới hậu Covid-19, cũng như đầu tư sản xuất nguyên liệu phục vụ đáp ứng quy tắc xuất xứ của các FTA. Hệ thống NHTM cần linh hoạt trong đánh giá, bởi sau một năm khó khăn, hiệu quả thấp, các dự án đầu tư của dệt may, nhất là đầu tư sản xuất sợi, vải không còn được thứ tự ưu tiên cao, tiếp cận vốn khó, lãi suất cao… nên rất cần xem xét lại cho giai đoạn mới tương ứng với tốc độ phục hồi của thị trường.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần có chính sách cụ thể cho phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may, kể cả không gian phát triển và các điều kiện kích thích phát triển. Các địa phương cũng cần ủng hộ ngành phát triển trên nguyên tắc bền vững, sản xuất sạch khi tuân thủ theo quy ước toàn cầu của chuỗi cung ứng. Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo tiết giảm được chi phí ngoài sản xuất, nhất là các chi phí logistics thông qua quy hoạch mạng lưới logistics quốc gia, cùng các chi phí thuế quan khác.

Ngoài ra, ông Trường cũng kiến nghị Bộ Công thương tiếp tục hỗ trợ DN khai thác hiệu quả các FTA thông qua hướng dẫn sớm nhất các quy trình đáp ứng quy tắc xuất xứ; có cổng thông tin tra cứu về nhiều mặt của các FTA...

“Các DN đã nhận được sự quan tâm sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công thương, Bộ LĐ-TB&XH, và hệ thống các NHTM, nhất là trong 6 tháng đầu năm, giúp DN tự tin, ổn định sản xuất và chấp nhận sản xuất mọi mặt hàng có thể chỉ để duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động”, ông Lê Tiến Trường phát biểu.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.965 23.165 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.950 23.160 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.963 23.175 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.960 23.160 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.480
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.480
55.830
Vàng SJC 5c
55.480
55.850
Vàng nhẫn 9999
51.900
52.500
Vàng nữ trang 9999
51.500
52.200