Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/4

07:23 | 07/04/2020

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 2.804 tỷ đồng. VN-Index tăng 34,95 điểm (+4,98%) lên 736,75 điểm; HNX-Index tăng 5,42 điểm (+5,54%) lên 103,26 điểm; UPCoM-Index tăng 1,20 điểm (+2,42%) lên 50,33 điểm. Thanh khoản thị trường tăng cao. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh gần 700 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te ngay 64 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/3-3/4
diem lai thong tin kinh te ngay 64

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 6/4, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.234 VND/USD, giảm 5 đồng so với phiên cuối tuần trước. Tỷ giá bán vẫn được niêm yết ở mức 23.650 VND/USD; tỷ giá mua giao ngay được niêm yết ở mức 23.175 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.480 VND/USD, tăng 40 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng 80 đồng ở chiều mua vào và 70 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.730 - 23.820 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 6/4, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêmvà 2 tuần trong khi tăng 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 1 tuần và 1 tháng so với phiên cuối tuần trước, cụ thể: qua đêm 3,54%; 1 tuần 3,56%; 2 tuần 3,57% và 1 tháng 3,6%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD giảm 0,03 - 0,22 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống, giao dịch tại: qua đêm 1,24%; 1 tuần 1,40%; 2 tuần 1,48%, 1 tháng 1,63%.

Lợi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: 3 năm 2,68%; 5 năm 2,86%; 7 năm 3,10%; 10 năm 3,35%; 15 năm 3,47%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên 6/4, Ngân hàng Nhà nước giảm chào thầu trên kênh cầm cố xuống mức 5.000 tỷ đồng vẫn với kỳ hạn 14 ngày, lãi suất giữ ở mức 3,5%. Có 2.804 tỷ đồng trúng thầu.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 2.804 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố tăng lên mức 23.641 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giữ ở mức gần 147.000 tỷ đồng.

Thị trường chứng khoán phiên giao dịch đầu tuần, nhiều cổ phiếu trụ đồng loạt tăng trần, tác động tích cực lên các chỉ số, đà tăng cũng lan toả sang các cổ phiếu vốn hoá vừa và nhỏ, sắc xanh bao trùm toàn thị trường. Theo đó, VN-Index tăng 34,95 điểm (+4,98%) lên 736,75 điểm; HNX-Index tăng 5,42 điểm (+5,54%) lên 103,26 điểm; UPCoM-Index tăng 1,20 điểm (+2,42%) lên 50,33 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng lên cao hơn mức trung bình với tổng giá trị giao dịch đạt trên 5.400 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng mạnh gần 700 tỷ đồng trên cả ba sàn trong phiên hôm qua.

diem lai thong tin kinh te ngay 64
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về kết quả thực hiện hỗ trợ tín dụng tính từ 23/01 - 28/03, các tổ chức tín dụng đã bước đầu cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho trên 12.000 khách hàng với dư nợ 13.500 tỷ đồng; đã và đang xem xét miễn giảm lãi cho gần 36.000 khách hàng với dư nợ trên 91.000 tỷ đồng.

Các tổ chức tín dụng cũng triển khai các chương trình, gói sản phẩm tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn so với lãi suất thông thường từ 0,5 - 3% (khoảng 285.000 tỷ đồng, chủ yếu cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa...). Kết quả, đến nay các tổ chức tín dụng đã cho vay mới đối với 47.000 khách hàng với doanh số cho vay đạt gần 80.000 tỷ đồng.

Tin quốc tế

Niềm tin đầu tư tại khu vực Eurozone ở mức -42,9 điểm trong tháng 4, thấp hơn nhiều so với mức -17,1 điểm của tháng 3, thậm chí tiêu cực hơn dự báo ở mức -30,5 điểm. Đây là mức “tiêu cực kỷ lục” mà Eurozone đón nhận trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có dấu hiệu bước vào suy thoái.

Chỉ số PMI lĩnh vực xây dựng tại nước Anh chỉ đạt 39,3 điểm trong tháng 3, giảm từ 52,6 điểm của tháng 2 và xuống thấp hơn dự báo ở mức 44,0 điểm.

Hôm qua ngày 6/4, Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố tình trạng khẩn cấp đối với 7 tỉnh thành do dịch Covid-19 bùng nổ. Bên cạnh đó, theo thống kê của Chính phủ Nhật Bản, niềm tin tiêu dùng của nước này ở mức 30,9% trong tháng 3, là mức thấp nhất kể từ tháng 3/2009.

Thủ tướng Able cũng cho biết nước này sẽ tung ra gói cứu trợ trị giá khoảng 108 nghìn tỷ JPY, tương đương 989 tỷ USD để hỗ trợ kinh tế và công cuộc chống đại dịch. Quy mô của gói cứu trợ này vào khoảng 20% GDP Nhật Bản và lớn hơn rất nhiều so với gói 56,8 nghìn tỷ JPY được tung ra năm 2008.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.160 23.350 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.175 23.345 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.164 23..374 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.160 23.360 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.420
48.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.420
48.770
Vàng SJC 5c
48.420
48.790
Vàng nhẫn 9999
47.550
48.200
Vàng nữ trang 9999
47.200
48.000