Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 10-14/5

08:22 | 17/05/2021

Tỷ giá LNH tuần qua biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 14/05, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.050 VND/USD, giảm 15 đồng so với phiên cuối tuần trước đó; KBNN huy động thành công toàn bộ 10.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu...

diem lai thong tin kinh te tuan tu 10 145 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 13/5
diem lai thong tin kinh te tuan tu 10 145 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 12/5

Tổng quan

Mặc dù các bộ, ngành, địa phương đã cùng vào cuộc ngay từ đầu năm để thực hiện đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2021, nhưng qua 4 tháng đầu năm, tỷ lệ giải ngân vẫn thấp.

Theo số liệu Bộ Tài chính trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 4, ước giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công 4 tháng đầu năm 2021 đạt 86.010,29 tỷ đồng, bằng 18,65% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2020 (18,98%), trong đó vốn trong nước đạt 20,74%, vốn nước ngoài đạt 2,02%. Hầu hết các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt thấp, 41/50 Bộ và 26/60 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới 15%, trong đó có 17 Bộ chưa giải ngân kế hoạch vốn. Đối với các dự án sử dụng vốn nước ngoài, giải ngân vốn nước ngoài ước 4 tháng đầu năm 2021 rất thấp và thấp hơn so với cùng kỳ năm 2020 (5,92%).

Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến hết ngày 31/01/2021, đã có trên 454.779 tỷ đồng vốn đầu tư thuộc kế hoạch năm 2020 được giải ngân, đạt 97,46% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đây là một tỷ lệ cao trong nhiều năm trở lại đây, nhất là trong năm 2020 vừa qua, do đại dịch Covid-19, toàn xã hội thực hiện giãn cách nên nhiều dự án bị chậm tiến độ thi công. Tỷ lệ này cũng cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ giải ngân của năm 2019 (đạt 73,7% kế hoạch Quốc hội giao và đạt 76,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao).

Nguyên nhân chưa giải ngân nhanh vốn ĐTC 2021 được chỉ ra là do trong các tháng đầu năm, các bộ, ngành, địa phương đang tập trung giải ngân vốn năm 2020 kéo dài song song với việc giải ngân kế hoạch vốn năm 2021. Đồng thời, các tháng đầu năm, nhiều chủ đầu tư đang triển khai các công việc như xây dựng kế hoạch đấu thầu, kế hoạch thi công… nên chưa có khối lượng để thanh toán. Các dự án lớn còn đang phải thực hiện điều chỉnh các thủ tục đầu tư (dự án đường cao tốc Bắc - Nam…).

Đặc biệt, các khó khăn về đền bù giải phóng mặt bằng vẫn tồn tại (đơn giá, phương án đền bù, khó khăn trong di dời các công trình tiện ích). Nguyên nhân tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA quá thấp cũng được chỉ rõ là do hầu hết các hoạt động của dự án đều gắn với yếu tố nước ngoài từ khâu nhập máy móc, thiết bị cho đến huy động chuyên gia, nhân công, nhà thầu nước ngoài, tư vấn giám sát…

Tuy nhiên do chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 nên các hoạt động này đều bị dừng lại, tiến độ dự án vì thế bị chậm lại, tiến độ giải ngân cũng bị ngưng trệ theo.

Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ nay đến cuối năm, phấn đấu đạt tỷ lệ cao nhất khi hết niên độ ngân sách, Bộ Tài chính đang tiếp tục kiến nghị Chính phủ rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng quy định tại các luật hiện hành và triển khai các quy định mới liên quan đến quản lý định mức đầu tư.

Đối với các bộ, ngành, địa phương, đề nghị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 01/NQ- CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2021 để đẩy nhanh tiến độ thực hiện và thanh toán vốn các dự án ngay từ đầu năm.

Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương cũng được yêu cầu chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án đề ra các giải pháp cụ thể tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu…, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, dự án; lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực (kỹ thuật và tài chính), kinh nghiệm để triển khai đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng công trình, đồng thời cam kết tiến độ giải ngân của từng dự án.

Hơn nữa, đề xuất Chính phủ có chế tài nghiêm khắc, quy trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức, kiên quyết xử lý nghiêm và kịp thời các tổ chức, cá nhân, lãnh đạo, cán bộ, công chức vi phạm quy định pháp luật và cố tình cản trở, gây khó khăn, làm chậm tiến độ giao, thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công.

Tóm lược thị trường trong nước từ 10/05 - 14/05

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 10/05 - 14/05, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng mạnh ở 2 phiên đầu tuần, sau đó giảm mạnh trở lại. Chốt phiên 14/05, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.176 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được duy trì niêm yết ở mức 23.125 VND/USD. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt phiên cuối tuần ở mức 23.821 VND/USD.

Tỷ giá LNH tuần qua biến động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 14/05, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.050 VND/USD, giảm 15 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Trong tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục xu hướng giảm mạnh của tuần trước đó. Chốt tuần 14/05, tỷ giá tự do giảm 150 đồng ở chiều mua vào và 180 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.250 – 23.280 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Trong tuần từ 10/05 - 14/05, lãi suất VND LNH không còn biến động mạnh như vài tuần trước đó. Chốt phiên 14/05, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,26% (+0,02 đpt); 1W 1,32% (+0,06 đpt); 2W 1,39% (+0,09 đpt); 1M 1,44% (+0,05 đpt).

Lãi suất USD LNH tiếp tục dao động tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt tuần 14/05, lãi suất USD LNH đóng cửa tại: ON 0,14% (không thay đổi); 1W 0,19% (+0,01 đpt); 2W 0,23% (không thay đổi) và 1M 0,32% (-0,02 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 10/05 - 14/05, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên ở tất cả 5 phiên qua kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lưu hành trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần từ 10/05 - 14/05, KBNN huy động thành công toàn bộ 10.500 tỷ đồng TPCP gọi thầu. Trong đó, kỳ hạn 5 năm, 10 năm, 15 năm và 20 năm huy động được lần lượt 1.500 tỷ đồng, 5.000 tỷ đồng, 2.500 tỷ đồng và 1.500 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu lần lượt tại 1,16%/năm (không đổi); 2,35%/năm (-0,01%); 2,59%/năm (+0,03%) và 3,05%/năm (không đổi). Trong tuần qua có 7.800 tỷ đồng TPCP đáo hạn. Tuần từ 17/05 – 21/05, KBNN gọi thầu 8.500 tỷ đồng TPCP (chưa bao gồm đấu thầu bổ sung). Trong tuần không có TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 9.298 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 9.722 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Trong tuần 10/05 - 14/05, lợi suất TPCP các kỳ hạn biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Chốt phiên 14/05, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,31% (+0,04 đpt); 2 năm 0,48% (không thay đổi); 3 năm 0,70% (+0,01 đpt); 5 năm 1,16% (-0,001 đpt); 7 năm 1,45% (-0,01 đpt); 10 năm 2,36% (-0,01 đpt); 15 năm 2,61% (+0,001 đpt); 30 năm 3,09% (không thay đổi).

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần từ 10/05 - 14/05 tương đối tích cực khi cả 3 chỉ số đều kết thúc tuần trong sắc xanh. Chốt tuần, VN-Index đứng ở mức 1.266,36 điểm, tăng mạnh 24,55 điểm (+1,98%) so với tuần trước đó; HNX-Index cũng tăng mạnh 14,86 điểm (+5,31%) lên 294,72 điểm; UPCoM-Index tăng 0,15 điểm (+0,19%) lên 81,0 điểm.

Thanh khoản thị trường tăng nhẹ so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt gần 24.500 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại bán ròng mạnh ở mức kỷ lục hơn 2.735 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Nước Mỹ đón một số thông tin kinh tế quan trọng. Đầu tiên, CPI toàn phần và CPI lõi của nước này lần lượt tăng 0,8% và 0,9% m/m trong tháng 4 sau khi tăng 0,6% và 0,3% ở tháng trước đó, đều vượt mạnh so với mức tăng 0,2% và 0,3% dự báo. So với cùng kỳ 2020, CPI toàn phần và CPI lõi Mỹ đã tăng lần lượt 4,2% và 3,0%. Tiếp theo, chỉ số giá sản xuất PPI lõi và PPI toàn phần của nước này lần lượt tăng 0,7% và 0,6% m/m trong tháng 4 sau khi tăng 0,7% và 1,0% ở tháng 3, tích cực hơn dự báo tăng 0,4% và 0,3% của các chuyên gia.

Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 08/05 được công bố ở mức 473 nghìn đơn, giảm xuống từ mức 507 nghìn đơn của tuần trước đó, tích cực hơn mức 487 nghìn đơn theo kỳ vọng. Doanh số bán lẻ toàn phần của Mỹ đi ngang trong tháng vừa qua (0,0% m/m) và doanh số bán lẻ lõi giảm 0,8% m/m, sau khi lần lượt tăng 10,7% và 9,0% trong tháng 3 trái với dự báo tiếp tục tăng 1,0% và 0,5%. Sản lượng công nghiệp Mỹ tăng 0,7% m/m trong tháng 4, nối tiếp đà tăng 2,4% của tháng 3 và gần khớp với mức tăng 0,9% theo kỳ vọng.

Cuối cùng, niềm tin tiêu dùng tại Mỹ do Đại học Michigan khảo sát được ở mức 82,8 điểm trong tháng 5, giảm tương đối mạnh từ mức 88,3 điểm của tháng 4 và trái với kỳ vọng tăng lên thành 90,2 điểm.

Kinh tế khu vực Châu Âu được kỳ vọng lạc quan hơn. Cuối tuần qua, Ủy ban Châu Âu EC cho biết kinh tế EU27 được kỳ vọng tăng trưởng 4,2% trong năm 2021 và 4,4% trong năm 2022, cải thiện một chút so với dự báo đưa ra hồi cuối năm 2020. Nguyên nhân chính do đầu tư công sẽ được đẩy mạnh trong năm sau, lên mức cao nhất trong vòng một thập kỷ.

Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực này được dự báo vẫn ở mức cao trong vòng hai năm tới, lần lượt là 7,6% và 7,0%.

Liên quan tới một số chỉ báo kinh tế, sản lượng công nghiệp Eurozone tăng nhẹ 0,1% m/m trong tháng 3 sau khi giảm 1,2% ở tháng 2, thấp hơn khá nhiều so với mức tăng 0,8% được kỳ vọng. Niềm tin kinh tế khu vực này được tổ chức ZEW khảo sát được ở mức 84,0 điểm trong tháng 5, tăng mạnh từ 66,3 điểm của tháng 4 và cao hơn nhiều so với dự báo ở mức 68,0 điểm. Tại Đức, CPI của nước này chính thức tăng 0,7% y/y trong tháng 4, không thay đổi so với thống kê sơ bộ và cao hơn so với mức tăng 0,5% của tháng 3.

Kinh tế nước Anh đón nhận một số chỉ báo tương đối lạc quan. Đầu tiên, GDP nước này giảm 1,5% q/q trong quý I/2021 sau khi tăng 1,3% ở quý trước đó, chưa tiêu cực như mức giảm 1,6% theo dự báo. Các nhà phân tích của Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh kỳ vọng nền kinh tế này sẽ tăng trở lại trong quý 2.

Liên quan tới một số chỉ báo trong tháng 3, sản lượng xây dựng của nước Anh trong tháng này tăng 5,8% m/m, nối tiếp đà tăng 2,3% của tháng 2, đồng thời tích cực hơn mức tăng 1,1% theo dự báo. Bên cạnh đó, sản lượng công nghiệp Anh tăng 1,8 m/m trong tháng 3, tích cực hơn dự báo tiếp tục tăng 1,0% như kết quả của tháng trước đó.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.822 23.042 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.850 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.850 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.840 23.055 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.827 23.042 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.250
Vàng SJC 5c
56.550
57.270
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400