Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 12-16/7

07:43 | 19/07/2021

Thêm một tuần giao dịch nữa thị trường chứng khoán diễn biến tiêu cực với VN-Index đi xuống. Theo đó, kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của tuần từ 12-16/07, VN-Index đứng ở mức 1.299,31 điểm, tương ứng giảm 48,83 điểm (-3,55%) so với tuần trước đó.

Tổng quan

Mặc dù năm 2020 đạt tỷ lệ cao kỷ lục, sang nửa đầu năm 2021, kết quả giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp, đặc biệt là nguồn vốn vay nước ngoài.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng đầu năm nay mới đạt 133.890,16 tỷ đồng, bằng 29,02% kế hoạch Thủ tướng giao, giảm so với cùng kỳ 2020. Trong đó, vốn trong nước đạt 31,75%, vốn nước ngoài đạt 7,37%.

Trong gần nửa đầu năm 2021, mới có 15/63 địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt trên 3%, trong khi có tới 37/63 địa phương tỉ lệ giải ngân là 0%. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến căng thẳng, đầu tư công được coi là một thành tố trong "cỗ xe tam mã", cùng với xuất khẩu và tiêu dùng, tạo động lực giúp tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, nhìn từ con số trên có thể thấy, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công rất chậm, không chỉ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành các dự án, mà còn làm tăng áp lực nợ công cho nhà nước. Điển hình cho việc chậm tiến độ là 2 dự án trọng điểm của cả nước gồm Dự án Cao tốc Bắc – Nam và Dự án Sân bay Long Thành.

Theo Bộ Tài chính, tính đến hết tháng 6/2021 dự án cao tốc Bắc – Nam mới giải ngân được 4.534 tỷ đồng, đạt 30% kế hoạch năm. Với 11 đoạn cao tốc Bắc - Nam đang thi công, chỉ 2 đoạn đáp ứng tiến độ, có tới 4 đoạn chậm tiến độ so với kế hoạch từ 0,5 - 2%, đoạn Cam Lộ - La Sơn khả năng không hoàn thành đưa vào sử dụng cuối năm 2021 như kế hoạch. Tương tự, dự án giải phóng mặt bằng sân bay Long Thành mới giải ngân 9.887 tỷ đồng, đạt 43% kế hoạch vốn.

Ngoài những nguyên nhân vốn có đã được nêu nhiều trước đây như lập kế hoạch chậm, khó khăn trong giải phóng mặt bằng, chậm thiết kế…, nguyên nhân chính khiến tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công 6 tháng đầu năm 2021 thấp, theo ý kiến từ các bộ, ngành, địa phương, là do đại dịch COVID-19 bùng phát trở lại, nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách, phong tỏa khiến ảnh hưởng tới việc triển khai, thi công nhiều dự án.

Ngoài ra, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến, đặc biệt, thép xây dựng có thời điểm đã tăng cao khoảng 40% - 50% so với đầu năm. Các chuyên gia cho rằng, nếu các bộ, ngành, địa phương không khẩn trương xử lý vấn đề tăng giá vật tư, vật liệu xây dựng và có giải pháp phù hợp đối với nhà thầu, với chủ đầu tư thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch thực hiện vốn đầu tư công cũng như vốn đầu tư ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2021 và những năm tiếp theo khi giá thành công trình bị đội lên.

Đối với các dự án ODA, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giải ngân thấp này là do ảnh hưởng của dịch Covid-19, các khâu từ nhập máy móc, thiết bị cho đến huy động chuyên gia, nhân công, nhà thầu nước ngoài, tư vấn giám sát đều bị ảnh hưởng.

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 63/NQ-CP của ngày 29/06/2021 về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải ngân vốn đầu tư công và xuất khẩu bền vững những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022. Trong đó, mục tiêu phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư NSNN năm 2021 đạt 95 - 100% kế hoạch được Thủ tướng giao từ đầu năm. Trong đó, đến hết quý 3/2021 giải ngân đạt tối thiểu 60% kế hoạch.

Để đạt được mục tiêu này, Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả. Từng bộ, ngành, địa phương phải rà soát kỹ, giảm mạnh số lượng dự án, nhất là các dự án khởi công mới; xóa bỏ cơ chế “xin - cho” và chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân công, phân nhiệm vụ, tăng cường giám sát, kiểm tra, đánh giá thực hiện và khen thưởng, kỷ luật; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhất là về thể chế, thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng; cắt bỏ những dự án đầu tư chưa thực sự cần thiết, kém hiệu quả.

Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm khoảng 1.500 dự án trong giai đoạn 2021-2025. Như vậy, số dự án đầu tư công giai đoạn 2021-2025 giảm xuống còn khoảng 5.000 dự án theo yêu cầu của Thủ tướng, nghĩa là giảm hơn một nửa so với giai đoạn 2016-2020 (11.000 dự án), và hơn 4 lần so vơi giai đoạn 2011-2015 (22.000 dự án). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối tháng 6/2021, các bộ ngành, địa phương đã công bố danh mục cắt giảm đầu tư khoảng 1.000 dự án.

Tóm lược thị trường trong nước từ 12/07 - 16/07

Thị trường ngoại tệ: Trong tuần từ 12/07 - 16/07, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt tuần, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.192 VND/USD, giảm 09 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng được duy trì niêm yết ở mức 22.975 đồng. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt phiên cuối tuần ở mức 23.838 VND/USD.

Tỷ giá LNH tiếp tục ít biến động trong tuần qua. Chốt phiên cuối tuần 16/07, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.011 VND/USD, tăng nhẹ 06 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Trong tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do cũng không biến động mạnh. Chốt tuần 16/07, tỷ giá tự do giảm 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.230 – 23.280 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Lãi suất VND LNH trong tuần từ 12/07 - 16/07 tăng – giảm nhẹ ở tất cả các kỳ hạn từ 1M trở xuống. Chốt phiên 16/07, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 1,0% (không thay đổi); 1W 1,10% (-0,01 đpt); 2W 1,22% (-0,03 đpt); 1M 1,38% (-0,03 đpt).

Tương tự, lãi suất USD LNH vẫn chỉ biến động tăng – giảm nhẹ, chốt tuần 16/07 đóng cửa tại: ON 0,15% (không thay đổi); 1W 0,18% (không thay đổi); 2W 0,22% (-0,01 đpt) và 1M 0,31% (-0,01 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 12/07 - 16/07, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên ở tất cả 5 phiên ở kênh cầm cố, với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất đều ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu, có 52,8 tỷ đồng đáo hạn trong tuần. Như vậy, NHNN hút 52,8 tỷ đồng từ thị trường trong tuần qua.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần từ 12/07 - 16/07, NHCSXH và KBNN cùng tham gia gọi thầu với tổng KL gọi thầu là 10.000 tỷ đồng.

Cụ thể, ngày 12/07, NHCSXH huy động thành công 1.500/2.000 tỷ đồng TPCPBL gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 75%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm huy động được toàn bộ 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm huy động 500/1.000 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm tại 2,5%/năm và kỳ hạn 15 năm tại 2,59%/năm, thấp hơn so với mức lần lượt 2,75%/năm và 2,9%/năm của phiên đấu thầu gần nhất trước đó là ngày 04/12/2020. Ngày 14/07, KBNN huy động thành công 7.340/8.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 92%). Trong đó, kỳ hạn 7 năm huy động thành công 700/1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động toàn bộ lần lượt 4.500 và 2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 20 năm huy động 140/500 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 7 năm tại 1,32%/năm (giảm 0,04 đpt), kỳ hạn 10 năm tại 2,15%/năm (giảm 0,02 đpt), kỳ hạn 15 năm tại 2,43%/năm (giảm 0,01 đpt) và kỳ hạn 20 năm giữ nguyên tại 2,91%/năm. Tuần này từ 19/07 – 23/07, KBNN và NHCSXH sẽ gọi thầu lần lượt 8.500 tỷ đồng và 2.000 tỷ đồng TPCP. Trong tuần này sẽ có 6.520 tỷ đồng TPCP đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 9.202 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh so với mức 13.568 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP giảm ở hầu hết các kỳ hạn trong tuần vừa qua. Chốt phiên 16/07, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,34% (không thay đổi); 2 năm 0,57% (không thay đổi); 3 năm 0,86% (-0,02 đpt); 5 năm 1,05% (-0,03đpt); 7 năm 1,33% (-0,01 đpt); 10 năm 2,16% (-0,01 đpt); 15 năm 2,44% (-0,02 đpt); 30 năm 3,07% (-0,01 đpt).

Thị trường chứng khoán: Thêm một tuần giao dịch nữa thị trường chứng khoán diễn biến tiêu cực với VN-Index đi xuống. Theo đó, kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của tuần từ 12-16/07, VN-Index đứng ở mức 1.299,31 điểm, tương ứng giảm 48,83 điểm (-3,55%) so với tuần trước đó. Tương tự, UPCoM-Index cũng giảm 1,75 điểm (-2,01%) xuống 85,33 điểm. Trong khi đó, HNX-Index tăng nhẹ trở lại 1,03 điểm (+0,34%) lên 307,76 điểm.

Thanh khoản thị trường tiếp tục sụt giảm so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt trên 20.400 tỷ đồng/phiên. Giao dịch của khối ngoại là điểm sáng của thị trường với khối lượng mua ròng gần 1.250 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

Tin quốc tế

Tuần qua ghi nhận một số thông tin đáng chú ý từ các NHTW lớn trên thế giới. Đầu tiên, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed Jerome Powell có buổi điều trần trước Ủy ban Tài chính - Quốc hội Mỹ ngày 14/07. Tại đây ông Powell khẳng định thị trường lao động chưa phục hồi hoàn toàn và lạm phát cao chỉ là tạm thời, những quyết định của Fed trong tháng 6 sẽ đảm bảo hỗ trợ mạnh mẽ cho nền kinh tế tới khi phục hồi hoàn toàn. Fed sẽ tiếp tục thảo luận về chương trình thu mua tài sản ở những cuộc họp sắp tới, và sẽ phát đi các thông báo trước khi đưa ra bất cứ thay đổi nào đối với chương trình này.

Về phía NHTW Châu Âu ECB, Chủ tịch Lagarde của cơ quan này ngày 12/07 cho biết sẽ công bố các hướng dẫn mới về CSTT của ECB vào ngày 22/07, đồng thời báo hiệu cơ quan này có thể tung ra biện pháp hỗ trợ cho năm 2022, sau khi chương trình mua trái phiếu khẩn cấp hiện tại kết thúc. Ngày 16/07, NHTW Nhật Bản BOJ trong cuộc họp định kỳ đã hạ dự báo tăng trưởng GDP của Nhật Bản trong tài khóa 2021 xuống còn 3,8% từ mức 4,0% của dự báo trước đó, nhưng lại nâng dự báo tăng trưởng trong tài khóa 2022 từ 2,4% lên 2,7%. BOJ quyết định sẽ duy trì các CSTT hiện tại, giữ LSCS ở mức -0,1% và tiếp tục thu mua TPCP nhằm giữ lợi suất TP kỳ hạn 10 năm ở mức quanh 0%.

Trên lĩnh vực lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ tuần kết thúc ngày 10/07 ở mức 360 nghìn đơn, giảm xuống từ mức 383 nghìn đơn của tuần trước đó nhưng chưa xuống như mức 350 nghìn đơn theo kỳ vọng. Về lạm phát, CPI toàn phần và CPI lõi của nước Mỹ cùng tăng 0,9% m/m trong tháng 6, sau khi lần lượt tăng 0,6% và 0,7% trong tháng 5, mạnh hơn nhiều so với dự báo chỉ tăng 0,5% và 0,4%. So với cùng kỳ năm 2020, CPI toàn phần của Mỹ tăng 5,4% và CPI lõi tăng 4,5%.

Bên cạnh đó, chỉ số giá sản xuất PPI toàn phần và PPI lõi tại nước này cùng tăng 1,0% m/m trong tháng 6, nối tiếp đà tăng 0,8% và 0,7% của tháng 5, đồng thời vượt mạnh mức tăng 0,6% và 0,5% theo dự báo. Tiếp theo, sản lượng công nghiệp tại nước Mỹ tăng 0,4% m/m trong tháng 6, nối tiếp đà tăng 0,8% của tháng 5, nhưng chưa đạt mức tăng 0,6% theo kỳ vọng. Cuối cùng, doanh số bán lẻ toàn phần và doanh số bán lẻ lõi tại Mỹ lần lượt tăng 0,6% và 1,3% m/m trong tháng 6 sau khi giảm 1,7% và 0,9% trong tháng 5.

Nước Anh ghi nhận các thông tin kinh tế trái chiều. Đầu tiên, CPI toàn phần và CPI lõi của nước này lần lượt tăng 2,5% và 2,3% y/y trong tháng 6, cao hơn mức tăng 2,1% và 2,0% của tháng 5, đồng thời vượt qua mức tăng 2,2% và 2,0% theo dự báo của các chuyên gia. Tuy nhiên, ở thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp của nước Anh trong tháng 6 tăng lên 4,8% từ mức 4,7% của tháng trước đó.

Thu nhập bình quân của người dân Anh tăng 7,3% 3m/y trong 3 tháng 04-05-06/2021, cao hơn nhiều so với mức 5,7% của 3 tháng 03-04-05, và cũng vượt qua mức tăng 7,1% theo kỳ vọng. Cuối cùng, giá nhà bình quân tại nước Anh trong tháng 5 tăng 10,0% y/y, cao hơn so với mức tăng 9,6% của tháng 4 và cao hơn mức tăng 9,5% theo dự báo.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900