Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 3-7/8

07:22 | 10/08/2020

Thị trường mở tuần qua không có giao dịch thành công. Chốt tuần 7/8, VN-Index đạt 841,46 điểm, tăng mạnh 43,07 điểm (+5,39%) so với phiên cuối tuần trước đó; thanh khoản thị trường có cải thiện; nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trở lại gần 150 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 5/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/8
diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78

Tổng quan

Trong bối cảnh dịch Covid-19 đã bùng phát trở lại tại Việt Nam, Chính phủ vẫn quyết tâm thực hiện mục tiêu kép: vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế.

Báo cáo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 cho thấy, tình hình phát triển kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2020 tiếp tục tháng sau khá hơn tháng trước. Cụ thể: Tiếp tục duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm dần (CPI trong tháng 7 tăng 0,4% so với tháng trước, CPI bình quân tính chung 7 tháng tăng 4,07% so với cùng kỳ; lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng tăng 2,74% so với cùng kỳ); mặt bằng lãi suất giảm; tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định.

Tính chung 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt gần 145,8 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ, trong đó điểm sáng là khu vực kinh tế trong nước tăng cao 13,5%; nhập khẩu hàng hóa ước đạt 139,3 tỷ USD, giảm 2,9%; xuất siêu 6,5 tỷ USD.

Sản xuất nông nghiệp tuy bị tác động của thiên tai, dịch bệnh nhưng vẫn phát triển ổn định, cơ cấu chuyển dịch tích cực, bảo đảm an ninh lương thực. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi 3 tháng liên tiếp, nhưng vẫn còn ở mức khiêm tốn 3,6%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 7 tiếp tục xu hướng tăng mạnh trở lại, tăng 4,3% so với cùng kỳ, nhờ các chính sách kích thích tiêu dùng và du lịch nội địa; tính chung 7 tháng bằng 99,6% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 3,6%.

Đặc biệt, khối lượng giải ngân vốn đầu tư công tăng kỷ lục trong tháng 7. Giải ngân kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước 7 tháng đạt gần 194,2 nghìn tỷ đồng, bằng 41,26% kế hoạch giao đầu năm (cùng kỳ đạt 32,27%). Tốc độ giải ngân tháng sau cao hơn tháng trước.

Đầu tư FDI và đầu tư tư nhân khá tích cực, trong đó, đăng ký vốn FDI mới 7 tháng tăng 14,4%, giải ngân trên 10,1 tỷ USD. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng tăng 79,9% so với cùng kỳ năm 2019.

Chính phủ cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức trong thời gian tới do đại dịch Covid-19 quay trở lại trong tháng 7. Mặc dù kinh tế vĩ mô ổn định nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, giá dầu thô biến động mạnh, giá thịt lợn còn cao; giải ngân vốn đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, nhất là giải ngân vốn ODA rất thấp.

Sản xuất kinh doanh nhiều ngành, lĩnh vực rất khó khăn; khu vực dịch vụ chịu tác động rất lớn, nhất là hàng không, du lịch; số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động và số lao động mất việc làm tăng...

Bên cạnh đó, lạm phát tuy được kiểm soát, đang giảm dần nhưng vẫn còn thách thức. Sản xuất công nghiệp tiếp tục có những khó khăn cần tháo gỡ, nhất là với ngành khai khoáng, khí đốt, khai khai thác dầu thô, công nghiệp chế biến, chế tạo. Chi ngân sách tiếp tục tăng, khiến cho thâm hụt ngân sách năm 2020 dự báo sẽ tăng.

Ngoài ra, Chính phủ cũng chỉ ra 3 rủi ro, thách thức từ bên ngoài, trong đó lớn nhất vẫn là dịch Covid-19 với diễn biến khó lường, đặc biệt là khi các đối tác quan trọng của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề; thứ hai là căng thẳng thương mại và công nghệ leo thang giữa nhiều nước; và thứ ba là cạnh tranh địa chính trị ngày càng phức tạp, thêm vào đó là thiên tai, lũ lụt diễn biến khó lường, ảnh hưởng tới khả năng phục hồi kinh tế của Việt Nam.

Về nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, Chính phủ yêu cầu tiếp tục kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, tạo thêm dư địa cho điều hành chính sách kinh tế.

Các Bộ trưởng, Trưởng ngành thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, tháo gỡ kịp thời các rào cản, khó khăn vướng mắc, khơi thông điểm nghẽn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân vốn đầu tư công; nỗ lực phấn đấu thực hiện giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2020 và các năm trước chuyển sang, coi việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm năm 2020.

Bảo đảm các cân đối lớn để củng cố niềm tin, góp phần ổn định xã hội; kết hợp đồng bộ, hiệu quả các chính sách, nhất là chính sách tài chính và tiền tệ để kích thích mạnh mẽ tổng cầu, trong đó lưu ý quy mô, phạm vi đủ lớn, phương thức hỗ trợ phù hợp, hiệu quả để tạo ngay động lực tăng trưởng, bảo đảm mục tiêu, định hướng.

Việc gia hạn, giãn, hoãn nợ, miễn giảm lãi suất thời gian qua đã bước đầu phát huy tốt, kịp thời, cần tiếp tục làm mạnh hơn nữa vì kinh tế gặp khó khăn khi dịch Covid-19 quay trở lại. Đây là một tuần thử thách nữa cho chính sách tài khóa và tiền tệ.

Quan tâm mở rộng tín dụng, bảo đảm mức tăng cần thiết để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, nhất là những lĩnh vực ưu tiên. Các ngành: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cán bộ có liên quan phải xây dựng kịch bản điều hành cụ thể cho quý III, quý IV/2020 và cả năm 2021.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ tuần từ 3-7/8, tỷ giá trung tâm chủ yếu được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh theo xu hướng giảm. Chốt phiên 7/8, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.200 VND/USD, giảm 13 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên niêm yết ở mức 23.175 VND/USD ở tất cả các phiên. Tỷ giá bán được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt tuần ở mức 23.846VND/USD.

Tương tự tuần trước đó, tỷ giá liên ngân hàng gần như không thay đổi trong tuần vừa qua. Kết thúc phiên 7/8, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.174 VND/USD, giảm nhẹ 1 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do trong tuần qua chỉ giảm phiên đầu tuần, sau đó giữ nguyên suốt 4 phiên. Chốt phiên 7/8, tỷ giá tự do giảm 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.170 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 3-7/8, lãi suất VND liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ qua các phiên ở hầu hết các kỳ hạn. Chốt phiên 7/8, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 0,26% (không thay đổi); 1 tuần 0,35% (-0,03 điểm phần trăm); 2 tuần 0,44% (-0,05 điểm phần trăm); 1 tháng 0,61% (-0,04 điểm phần trăm).

Lãi suất USD liên ngân hàng cũng giảm nhẹ trong tuần qua ở hầu hết các kỳ hạn. Cuối phiên 7/8, lãi suất USD liên ngân hàng đứng ở mức qua đêm 0,19 (-0,01 điểm phần trăm); 1 tuần 0,26% (-0,03 điểm phần trăm); 2 tuần 0,36% (-0,02 điểm phần trăm) và 1 tháng 0,54% (không thay đổi).

Thị trường mở tuần từ 3-7/8, Ngân hàng Nhà nước đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu trong tuần qua. Trong tuần không có khối lượng đáo hạn trên kênh này.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước trong tuần qua.

Thị trường trái phiếu tuần qua, Kho bạc Nhà nước huy động thành công 5.814/7.250 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 80%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 805/1.000 tỷ đồng gọi thầu, kỳ hạn 10 năm 3.059/4.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm 1.450/1.500 tỷ đồng, kỳ hạn 20 năm 500/750 tỷ đồng.

Lãi suất kỳ hạn 5 năm tại 1,72% (-0,02% so với phiên đấu thầu trước đó); 10 năm tại 2,82% (+0,02%); 15 năm 3,01% (không thay đổi) và 20 năm tại 3,34% (không thay đổi). Trong tuần không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Trong tuần từ 10-14/8, Kho bạc Nhà nước dự kiến gọi thầu 7.500 tỷ đồng, tăng nhẹ so với tuần trước đó. Trong tuần này cũng không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 9.866 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 11.700 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.

Lợi suất trái phiếu chính phủ tuần qua đều giảm so với tuần trước đó ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 7/8, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 0,4% (-0,02 điểm phần trăm); 2 năm 0,49% (-0,02 điểm phần trăm); 3 năm 0,8% (-0,08 điểm phần trăm); 5 năm 1,68% (-0,14điểm phần trăm); 7 năm 2,25% (-0,10 điểm phần trăm); 10 năm 2,86% (-0,08 điểm phần trăm); 15 năm 3,07% (-0,04 điểm phần trăm); 30 năm 3,49% (-0,03 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán tuần từ 3-7/8 khởi sắc khi cả 3 chỉ số đều bật tăng qua các phiên trong tuần. Chốt tuần 7/8, VN-Index đạt 841,46 điểm, tăng mạnh 43,07 điểm (+5,39%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index cũng tăng mạnh 5,27 điểm (+4,90%), lên mức 112,78 điểm; UPCOM-Index tăng 1,42 điểm (+2,59%) lên 56,22 điểm.

Thanh khoản thị trường có cải thiện so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt gần 5.000 tỷ đồng/phiên. Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng trở lại gần 150 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

diem lai thong tin kinh te tuan tu 3 78
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Mỹ đón nhiều thông tin kinh tế tích cực. Viện Quản lý Nguồn cung Mỹ ISM cho biết chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ của Mỹ lần lượt ở mức 54,2% và 58,1% trong tháng 7, cùng tăng so với 52,6% và 57,1% trong tháng 6, đồng thời cao hơn dự báo ở mức 53,6% và 55,0%.

Về thị trường lao động, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại Mỹ chỉ ở mức 1,186 triệu đơn trong tuần kết thúc ngày 1/8, thấp hơn so với 1,434 triệu đơn của tuần trước đó, đồng thời thấp hơn dự báo ở mức 1,41 triệu đơn.

Thu nhập bình quân theo giờ tại Mỹ tăng 0,2% so với tháng trước trong tháng 7 sau khi giảm 1,3% ở tháng 6, trái với dự báo tiếp tục giảm 0,5%.

Khu vực phi nông nghiệp tại Mỹ cũng tăng 1,76 triệu việc làm trong tháng vừa qua, tuy thấp hơn mức 4,79 triệu của tháng trước đó nhưng vẫn cao hơn dự báo ở mức 1,53 triệu.

Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này ở mức 10,2% trong tháng 7, giảm từ mức 11,1% của tháng 6 và tích cực hơn mức thất nghiệp 10,5% theo dự báo.

Nước Anh đạt đồng thuận thương mại với Nhật Bản, có tiến triển trong quá trình đàm phán với EU. Bên cạnh đó, NHTW Anh BOE không thay đổi chính sách tiền tệ.

Cụ thể, ngày 8/8, Bộ Thương mại Anh cho biết nước này cùng Nhật Bản đã đạt được đồng thuận về các vấn đề thương mại chủ chốt mà hai nước sẽ thực hiện thời kỳ hậu Brexit. Bộ này cho biết nội dung thỏa thuận thương mại Anh - Nhật Bản sẽ khá giống với thỏa thuận Nhật Bản - EU có hiệu lực vào tháng 2/2019.

Điều khác biệt là Nhật Bản mong muốn có lợi trong các khoản thuế xuất khẩu ô tô của nước này, trong khi nước Anh hướng đến những lợi ích về ngành dịch vụ tài chính và công nghiệp dệt may.

Về tình hình Brexit, Bộ Thương mại Anh cho biết khối EU đang có những dấu hiệu nhượng bộ liên quan đến các luật đánh bắt cá của hai nền kinh tế sau khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp. Trong tháng 8 sẽ tiếp tục có cuộc đàm phán giữa hai bên diễn ra từ ngày 17 đến 21 tại Brussels, cả hai bên đều hi vọng có thể đi đến thỏa thuận, tránh kịch bản gián đoạn đột ngột trong nhiều lĩnh vực.

Trong tuần qua, BOE có cuộc họp định kỳ, NHTW này không thay đổi chính sách tiền tệ, giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức 0,1%; bên cạnh đó không thay đổi kế hoạch mua và nắm giữ trái phiếu chính phủ ở mức 745 tỷ GBP.

Liên quan đến chỉ báo kinh tế Anh, PMI lĩnh vực xây dựng tại nước này ở mức 58,1 điểm trong tháng 7, cao hơn mức 55,3 điểm của tháng 6 đồng thời vượt qua mức 57,0 điểm theo kỳ vọng. Halifax cho biết giá nhà tại nước Anh tăng 1,6% so với tháng trước trong tháng vừa qua, sau khi đi ngang ở tháng trước đó (0,0% so với tháng trước), tích cực hơn mức tăng 0,2% theo dự báo.

NHTW Úc RBA không thay đổi chính sách tiền tệ, nước Úc đón một số thông tin kinh tế tương đối tích cực.

Trong cuộc họp tuần vừa qua, RBA giữ lãi suất chính sách ở mức 0,25% và sẽ duy trì mức lãi suất chính sách này cho tới khi hỗ trợ tối đa cho thị trường lao động và đạt mức lạm phát mục tiêu ổn định từ 2% đến 3% hàng năm. NHTW này dự báo CPI của Úc ở khoảng từ 1% đến 1,5% vào cuối năm 2021.

Liên quan đến các chỉ báo kinh tế, chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ của Úc được AIG cho biết lần lượt ở mức 53,5 và 44,0 điểm trong tháng 7; cùng tăng so với 51,5 và 31,5 điểm của tháng 6.

Tiếp theo, doanh số bán lẻ của nước này tăng 2,7% so với tháng trước trong tháng 6, cao hơn so với dự báo tiếp tục tăng 2,4% so với tháng trước như trong tháng 5.

Cuối cùng, cán cân thương mại Úc thặng dư 8,2 tỷ AUD trong tháng 6, cao hơn mức thặng dư 7,34 tỷ của tháng 5 và thấp hơn một chút so với dự báo thặng dư 8,8 tỷ.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250