Điểm lại thông tin kinh tế ngày 4/8

07:26 | 05/08/2020

Thị trường mở tiếp tục một phiên không có giao dịch thành công. VN-Index tăng 12,92 điểm (+1,59%) lên 827,57 điểm; thanh khoản toàn thị trường giảm khá mạnh; khối ngoại quay trở lại bán ròng hơn 115 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te ngay 48 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/8
diem lai thong tin kinh te ngay 48 Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 27-31/7
diem lai thong tin kinh te ngay 48

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 4/8, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.214 VND/USD, tăng trở lại 7 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay vẫn được niêm yết ở mức 23.175 VND/USD, tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.860 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá tiếp tục chốt phiên ở mức 23.175 VND/USD, giữ nguyên so với phiên 3/8. Tỷ giá trên thị trường tự do không thay đổi ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.170 - 23.200 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 4/8, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tháng trong khi giữ nguyên ở các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần so với phiên trước đó; cụ thể: qua đêm 0,23%; 1 tuần 0,37%; 2 tuần 0,46% và 1 tháng 0,63%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở các kỳ ngắn trong khi giảm 0,01 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 0,19%; 1 tuần 0,26%; 2 tuần 0,36%, 1 tháng 0,53%.

Lợi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: 3 năm 0,82%; 5 năm 1,77%; 7 năm 2,29%; 10 năm 2,89%; 15 năm 3,07%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua, lực cầu từ phiên đầu tuần tiếp tục dâng cao giúp thị trường trụ vững sắc xanh suốt cả phiên. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 12,92 điểm (+1,59%) lên 827,57 điểm; HNX-Index tăng 2,07 điểm (+1,87%) lên 112,5 điểm; UPCoM-Index tăng 0,38 điểm (+0,68%) lên 55,89 điểm.

Thanh khoản toàn thị trường giảm khá mạnh so với phiên trước đó với tổng giá trị giao dịch đạt trên 5.700 tỷ đồng. Khối ngoại quay trở lại bán ròng hơn 115 tỷ đồng trên cả 3 sàn.

diem lai thong tin kinh te ngay 48
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Bộ Tài chính, lũy kế thanh toán vốn kế hoạch (bao gồm vốn kế hoạch các năm trước được kéo dài chuyển sang năm 2020) từ đầu năm đến ngày 31/7 là hơn 216.538 tỷ đồng, đạt 35,6% kế hoạch. Trong đó, vốn trong nước là hơn 191.898 tỷ đồng (đạt 37,4% kế hoạch), vốn nước ngoài là hơn 13.025 tỷ đồng (đạt 19,5% kế hoạch), vốn chương trình mục tiêu quốc gia là hơn 11.614 tỷ đồng (đạt 39,8% kế hoạch).

Tin quốc tế

Bộ Thương mại Mỹ cho biết giá trị đơn đặt hàng nhà máy tại nước này tăng 6,2% so với tháng trước trong tháng 6, nối tiếp đà tăng 7,7% của tháng 5 và đồng thời cao hơn so với dự báo chỉ tăng 5,1%.

Nhà kinh tế trưởng của ECB - ông Philip Lane - cảnh báo về một triển vọng kinh tế bất ổn tại khu vực Eurozone. Ông cho biết NHTW này cam kết hỗ trợ thị trường khu vực giữa đại dịch Covid-19. ECB sẽ sử dụng chính sách mua lượng trái phiếu khổng lồ là công cụ chính để hỗ trợ thanh khoản cho thị trường.

Ông Philip Lane cho biết trong tháng 9, NHTW châu Âu có thể tăng quy mô chương trình “Thu mua khẩn cấp trong đại dịch” (PEPP) trị giá 1,35 nghìn tỷ EUR, sau khi cơ quan này cập nhật lại dự báo kinh tế.

NHTW Úc RBA nhận định mặc dù kinh tế thế giới đã qua giai đoạn suy thoái nghiêm trọng do dịch Covid-19, song triển vọng tương lai vẫn còn nhiều bất ổn. Các chính sách hỗ trợ của RBA kể từ giữa tháng 3 đã thể hiện hiệu quả như kỳ vọng. Thanh khoản trên thị trường đang ở mức rất cao, trong khi hệ thống lãi suất duy trì ở mức thấp nhất lịch sử.

Các chính sách hỗ trợ này được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả nhiều hơn trong những tháng tới. Theo đó, NHTW Úc quyết định không thay đổi chính sách tiền tệ, giữ lãi suất chính sách ở mức 0,25% và sẽ duy trì mức lãi suất này cho tới khi hỗ trợ tối đa cho thị trường lao động, đồng thời đạt mức lạm phát mục tiêu ổn định từ 2% đến 3% so với cùng kỳ.

Ngoài ra, RBA cũng dự báo rằng lạm trung bình phát tại Úc chỉ ở khoảng 1% đến 1,5% so với cùng kỳ trong vòng hai năm tới.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250