Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản mừng

13:00 | 12/11/2018

Đến thời điểm hiện tại, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã gần như hoàn tất việc giao những đơn hàng xuất khẩu cuối của năm 2018.

Ngành thủy sản định vị lại thị trường nội địa
Vốn ngân hàng và sự hồi sinh của biển

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep), xuất khẩu thủy sản cả nước 10 tháng/2018 đạt 7,2 tỷ USD, chỉ tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017. Chỉ còn 2 tháng nữa là kết thúc năm 2018, dự báo cả năm nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước sẽ đạt khoảng 9 tỷ USD. Tuy ít hơn kỳ vọng trước đây là 10 tỷ USD/2018, nhưng nhiều doanh nghiệp ngành thủy sản cho rằng đây là điều đáng mừng, bởi hầu hết các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam đều tăng nhập khẩu ở quý cuối của năm.

Năm 2018 là năm khá thành công với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản

Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó chủ tịch Vasep cho hay, hầu hết các mặt hàng thủy sản trong năm 2018 đều phát triển tốt và xuất khẩu với giá trị gia tăng cao. Trong 10 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt gần 6,2 triệu tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2017. Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt gần 3,3 triệu tấn, tăng 6,6%, sản lượng thủy sản khai thác đạt gần 2,9 triệu tấn, tăng 5,3%.

Cụ thể, cá tra tiếp tục thuận lợi về giá, thị trường tiêu thụ truyền thống như Hoa Kỳ (Mỹ) và châu Âu (EU) bắt đầu tăng lượng nhập khẩu, do nhu cầu phục vụ dịp lễ Noel và Tết dương lịch. Giá trị xuất khẩu cá tra tại nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Hong Kong, Mỹ, EU và ASEAN hiện đều tăng trưởng khả quan. Trong 10 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt trên 1,8 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2017. Mặt hàng tôm đang phục hồi giá bán, xuất khẩu tôm có xu hướng tăng trở lại so với những tháng trước.

Riêng thị trường Mỹ bắt đầu khởi sắc nhờ thuế chống bán phá giá tôm giảm mạnh. Dự báo xuất khẩu tôm cuối năm sẽ cán đích ở mức gần 3,8 tỷ USD, tương đương hoặc giảm nhẹ so với năm ngoái. Nhóm hàng thủy sản khác là mực, bạch tuộc tăng 12% đạt 69 triệu USD và dự kiến năm 2018, xuất khẩu mặt hàng này sẽ đạt khoảng 650 triệu USD, tăng 4%.

Theo ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc CTCP Chế biến Xuất nhập khẩu Thủy sản tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Baseafood), năm 2018 thật sự là một năm đầy thách thức cho các doanh nghiệp nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản xuất khẩu. Trong đó, khó khăn nhất là doanh nghiệp khai thác, đánh bắt thủy sản bởi chịu áp lực thẻ vàng của EU; doanh  nghiệp ngành tôm chịu áp lực rào cản thương mại và kỹ thuật của thị trường Mỹ…

Tuy vậy, giá trị của thủy sản xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng tại nhiều thị trường lớn do doanh nghiệp nắm bắt kịp xu hướng tiêu thụ của thị trường thế giới, đồng thời tăng tìm kiếm, khai thác nhiều thị trường mới (Trung Đông, ASEAN) sau khi chịu hàng loạt bất lợi. Khi mặt hàng cá ngừ xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm, thì các doanh nghiệp lại chuyển hướng sang các thị trường Tây Ban Nha, Hà Lan, Israel hay ASEAN… nên xuất khẩu cá ngừ vẫn giữ mức tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2017. 

Đến thời điểm hiện tại, hầu hết doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã gần như hoàn tất việc giao những đơn hàng xuất khẩu cuối của năm 2018.

Thanh Thanh

Nguồn:

Tags: thủy sản

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850