Giảm lãi suất sẽ hỗ trợ nền kinh tế tốt hơn

10:15 | 19/11/2019

Đó là phân tích của các chuyên gia kinh tế và lãnh đạo ngân hàng sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu từ hôm nay (19/11) lãi suất huy động của các ngân hàng được giảm xuống 5%/năm, lãi suất cho vay cũng hạ 0,5% với các lĩnh vực ưu tiên, ngành kinh tế.

MSB giảm lãi suất cho vay
Vietcombank giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay
Giảm lãi suất cho vay sẽ hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh

Giới chuyên gia kinh tế và ngân hàng cho rằng, việc điều chỉnh giảm lãi suất của NHNN đã cụ thể hóa phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại hội trường Quốc hội mới đây là “sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phấn đấu 2020, giảm ít nhất 0,5 điểm phần trăm lãi suất cho vay, nhất là đối với những lĩnh vực ưu tiên”.

Bình luận về động thái trên, TS. Nguyễn Trí Hiếu – Chuyên gia kinh tế cho rằng, chỉ đạo của NHNN là rất phù hợp xét cả trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước. Theo ông Hiếu, trong bối cảnh thế giới chịu tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Ngân hàng Trung ương một số nước cũng đã điều chỉnh giảm lãi suất điều hành để hỗ trợ nền kinh tế tốt hơn.

Chính vì vậy, việc đưa ra quyết định chỉ đạo giảm lãi suất tiền gửi với kỳ hạn 6 tháng trở xuống và giảm lãi suất cho vay của NHNN sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tốt hơn trong hơn một tháng còn lại của năm 2019 và năm 2020.

Việc giảm lãi suất cũng góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn rẻ hơn, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh.

Giảm lãi suất huy động ở kỳ hạn ngắn từ 6 tháng trở xuống có thể khách hàng sẽ gửi tiền nhiều hơn ở kỳ hạn dài, giúp ngân hàng cân đối nguồn và cho vay trung, dài hạn hỗ trợ nền kinh tế.

“Về mặt điều hành, NHNN đánh giá thanh khoản hệ thống ngân hàng đang khá tốt, các ngân hàng vẫn duy trì được huy động vốn dồi dào nên đã đưa ra các quyết định trên”, TS. Nguyễn Trí Hiếu nói.

Cũng theo các chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soát tốt trong thời gian qua đã tạo điều kiện cho lãi suất giảm và hơn nữa động thái giảm lãi suất của NHNN cũng cho thấy ngân hàng luôn chia sẻ, đồng hành cùng các doanh nghiệp.

Trao đổi với phóng viên thoibaonganhang.vn, ông Nguyễn Đình Tùng – Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) cho biết, ngay trong sáng nay OCB sẽ triển khai các chỉ đạo của NHNN về điều chỉnh giảm lãi suất. Theo ông Tùng, việc điều chỉnh giảm lãi suất trong bối cảnh hiện nay là rất phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ông Nguyễn Văn Thân - Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho biết: Giảm lãi suất thể hiện mạch máu nền kinh tế đang lưu thông rất tốt. Đặc biệt, việc hệ thống ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay không chỉ tin vui với cộng đồng doanh nghiệp mà rộng hơn là cả người dân và nền kinh tế.

Theo các quyết định của NHNN, từ hôm nay (19/11) lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 1,0%/năm xuống 0,8%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ 5,5%/năm xuống 5,0%/năm.

Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô giảm từ 6,0%/năm xuống 5,5%/năm. Riêng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường.

Cùng với đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm từ 6,5%/năm xuống 6,0%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô đối với các nhu cầu vốn này giảm từ 7,5%/năm xuống 7,0%/năm.

Đức Nghiêm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950