Linh hoạt trong thế giới bất định

09:09 | 09/01/2020

Quan điểm “chủ động, linh hoạt, thận trọng” trong điều hành chính sách tiền tệ đã được NHNN quán triệt từ nhiều năm nay...

2020: Dư địa lớn cho chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ góp phần tích cực vào giảm lạm phát
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tại Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 3/1/2020 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2020, Thống đốc NHNN yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát bình quân dưới 4%, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Năm 2020, định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%; tín dụng tăng khoảng 14%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế…

Có thể thấy quan điểm “chủ động, linh hoạt, thận trọng” trong điều hành chính sách tiền tệ đã được NHNN quán triệt từ nhiều năm nay. Theo giới chuyên môn, đó là quan điểm đúng đắn không chỉ với chính sách tiền tệ mà cả với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất định và tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay.

Nhìn lại năm 2019, kinh tế thế giới giảm tốc mạnh, trong khi thị trường tài chính toàn cầu liên tục biến động theo sự nóng - lạnh của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung; Fed và nhiều NHTW lớn khác trên thế giới đã đột ngột chuyển hướng chính sách từ thắt chặt sang nới lỏng.

Tuy nhiên nhờ sự điều hành chủ động và linh hoạt của NHNN, thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước vẫn ổn định, sức khỏe của hệ thống ngân hàng ngày càng được cải thiện tích cực. Không những vậy, chính sách tiền tệ còn góp phần tích cực vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát cũng như hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra. Đặc biệt, NHNN còn mua vào một lượng lớn ngoại tệ để nâng dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức cao kỷ lục 79,9 tỷ USD.

Chẳng hạn như sau khi Fed và nhiều NHTW lớn khác chuyển hướng chính sách sang nới lỏng, NHNN cũng nhanh chóng giảm 0,25 điểm phần trăm các mức lãi suất điều hành để tạo điều kiện cho các TCTD có thể tiếp cận nguồn vốn giá rẻ từ NHNN để ổn định mặt bằng lãi suất. Tiếp đó, ngày 19/11/2019 NHNN đã có các quyết định giảm 0,2-0,5%/năm trần lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng và 0,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Sau các động thái điều hành của NHNN, mặt bằng lãi suất thị trường có xu hướng giảm. Lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng giảm 0,2-0,5%/năm và lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên giảm 0,5%/năm. Các TCTD có thị phần lớn chủ động giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên, áp dụng chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp với nhiều đợt cắt giảm trong năm 2019 để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thế nhưng nhà điều hành vẫn tỏ ra rất thận trọng khi mà kinh tế toàn cầu còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi trong nước áp lực lạm phát đang có xu hướng gia tăng cùng với giá thực phẩm. Theo đó NHNN vẫn kiểm soát chặt lượng tiền cung ứng cũng như kiên định có nhiều với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% đã đề ra; đồng thời liên tục nhắc nhở các TCTD kiểm soát chặt tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro. NHNN cũng đã ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng trong đó đề ra lộ trình giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn về còn 30% cũng như tăng hệ số rủi ro của một số khoản vay. Kết quả, đến cuối năm 2019, tín dụng tăng khoảng trên 13,70% so với cuối năm 2018.

“Việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng tổng thể cùng với lộ trình siết chặt các quy định an toàn về vốn và tín dụng cho thấy quan điểm điều hành thận trọng của NHNN. Giảm lãi suất vẫn đang được cân đối với kiểm soát lạm phát, tỷ giá và sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng”, Công ty chứng khoán SSI đánh giá.

Những kết quả trên là điểm tựa vững chắc để NHNN tiếp tục duy trì quan điểm điều hành chủ động, linh hoạt và thận trọng của mình trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn bất định và tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay khi mà cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung vẫn chưa rõ hồi kết; trong khi các NHTW lớn trên thế giới như Fed rất có thể sẽ kết thúc chu kỳ nới lỏng, thậm chí có thể đảo chiều một lần nữa sang thắt chặt.

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2020 của ngành Ngân hàng “trong bối cảnh thị trường quốc tế diễn biến rất phức tạp và khó lường đòi hỏi năng lực dự báo, hoạch định cũng như chủ động trong các phương án điều hành cần làm tốt hơn nữa. Đơn cử trong điều hành tỷ giá, thị trường ngoại tệ NHNN phải chuẩn bị nhiều kịch bản điều hành khác nhau để kịp thời ứng xử trong các tình huống”.

Minh Trí

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950