Ngân hàng lại dồn dập tăng vốn

17:03 | 03/07/2022

Tăng đủ vốn không chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với các ngân hàng trong ngắn hạn mà cả trong trung, dài hạn. Nhưng việc các ngân hàng có thực hiện tăng vốn được như kế hoạch đặt ra trong năm 2022 hay không, theo giới chuyên môn phụ thuộc vào nhiều biến số từ kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán...

ngan hang lai don dap tang von Tăng vốn ngân hàng: Căn chỉnh điều kiện thực tế
ngan hang lai don dap tang von Ngân hàng lên kế hoạch tăng vốn điều lệ

SeABank vừa chốt danh sách cổ đông để trả cổ tức bằng cổ phiếu và phát hành cổ phiếu để tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ thực hiện quyền nhận cổ tức là 12,73%; tỷ lệ thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành để tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu là 6,6%. NHNN đã chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ thêm gần 59 tỷ đồng. Trong đó, tăng vốn điều lệ thêm 50 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) và thêm 8,82 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài (ngân hàng Aozora – Nhật Bản) theo phương án tăng vốn điều lệ đã được ĐHĐCĐ thường niên 2022 thông qua. VietCapitalBank cũng dự kiến tăng vốn thêm tối đa hơn 1.618 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ đạt khoảng 5.289 tỷ đồng. Phía các NHTM có vốn nhà nước cũng lên kế hoạch tăng vốn khủng trong năm 2022. Trong đó, BIDV có kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm tới 10.623 tỷ đồng lên mức 61.208 tỷ đồng, tương đương tăng 21%. Vietcombank có kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm gần 8.566 tỷ đồng, để đưa vốn điều lệ từ 47.325 tỷ đồng lên 55.891 tỷ đồng…

ngan hang lai don dap tang von
Các ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa để nâng vốn, cải thiện chỉ số CAR

Thống kê sơ bộ có tới hơn 20 nhà băng lên kế hoạch tăng vốn trong 2022, nhưng mới chỉ ít ngân hàng hoàn thành xong như VIB, ACB... Như vậy, từ nay đến cuối năm sẽ chứng kiến cuộc đua tăng vốn diễn ra dồn dập. Việc các ngân hàng liên tục thực hiện tăng vốn, theo chia sẻ của Tổng giám đốc OCB Nguyễn Đình Tùng nhằm bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh, giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, tăng hệ số an toàn vốn (CAR). Vốn ngân hàng như gối đệm giữ chỉ số CAR luôn ở mức an toàn. Nhất là trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động ngân hàng càng cần củng cố hệ số CAR để có thể vững vàng trước sóng gió thị trường.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến cuối tháng 3/2022, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu áp dụng theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN đạt khoảng 11,52%. Vốn hoá các ngân hàng Việt Nam được cải thiện đáng kể những năm gần đây. Tuy nhiên, nếu so với các ngân hàng quốc tế và mức trung bình của khu vực thì tỷ lệ này của ngân hàng Việt vẫn ở mức thấp. Hơn nữa trong thời gian tới, khi cầu tín dụng tăng theo đà phục hồi của nền kinh tế sẽ dẫn đến khả năng tỷ lệ CAR của các ngân hàng trong hai, ba năm tới giảm, nếu ngân hàng không có lộ trình tăng vốn phù hợp.

Đánh giá về nhu cầu vốn của các ngân hàng Việt Nam, ông Mohammad Mudasser - Giám đốc dịch vụ tư vấn, PwC Việt Nam cho biết, vốn ngân hàng vẫn mỏng, có khả năng làm ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng tín dụng và gắn với hỗ trợ tăng GDP. Theo ước tính của Fitch, nhu cầu vốn bổ sung của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam sẽ tăng lên 10,7 tỷ USD (2,9% GDP) nếu các ngân hàng tăng mức dự phòng rủi ro cho vay để bù đắp các khoản thất thoát tiềm ẩn. Ông Tamma Febrian - Giám đốc hợp danh, các định chế tài chính, ngân hàng của Fitch Ratings nhận định, tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam những năm gần đây rất nhanh đòi hỏi quy mô vốn của các ngân hàng cũng phải mở rộng, đảm bảo các tỷ lệ về an toàn. Hơn thế, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, các ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa để nâng vốn, cải thiện chỉ số CAR.

Tại Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 – 2025 cũng đặt ra yêu cầu các TCTD phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ tương ứng với từng quy mô đến năm 2025. Cụ thể, theo Đề án, nhóm NHTM trong nước có tiềm lực tài chính, năng lực cạnh tranh, quy mô lớn có vốn điều lệ tối thiểu đạt 15.000 tỷ đồng; nhóm NHTM trong nước có tiềm lực tài chính, năng lực cạnh tranh, quy mô nhỏ và trung bình, vốn điều lệ tối thiểu đạt 5.000 tỷ đồng... Như vậy, tăng đủ vốn không chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với các ngân hàng trong ngắn hạn mà cả trong trung, dài hạn. Nhưng việc các ngân hàng có thực hiện tăng vốn được như kế hoạch đặt ra trong năm 2022 hay không, theo giới chuyên môn phụ thuộc vào nhiều biến số từ kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán...

Theo một chuyên gia ngân hàng, mức độ tăng vốn năm 2022 có thể sẽ thấp hơn so với năm 2021. Vì hoạt động kinh doanh ngân hàng năm nay có thể không bằng năm trước do NIM giảm nhẹ, ngân hàng tăng cường trích lập dự phòng cho các khoản nợ cơ cấu nên nguồn lợi nhuận giữ lại tăng vốn không được nhiều. Hiện tại giải pháp tăng vốn được các ngân hàng thực hiện chủ yếu là chia cổ tức bằng cổ phiếu. Đây cũng là yêu cầu của cơ quan quản lý. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn điều chỉnh, giá cổ phiếu ngân hàng cũng như cổ phiếu nhiều ngành, lĩnh vực khác chịu áp lực giảm điểm cũng phần nào ảnh hưởng đến lộ trình tăng vốn của ngân hàng. Vì ngân hàng chia cổ tức bằng cổ phiếu thì sẽ bị pha loãng, tạo áp lực giảm giá lên cổ phiếu.

“Vẫn biết là sức ép lên thị giá cổ phiếu, nhưng chia cổ tức bằng cổ phiếu là giải pháp khả dĩ nhất để các ngân hàng tăng vốn được thành công trong giai đoạn này”, vị chuyên gia này nhìn nhận.

Ngoài trả cổ tức bằng cổ phiếu, các ngân hàng còn lựa chọn thêm nhiều giải pháp tăng vốn điều lệ, như qua phát hành cổ phiếu theo Chương trình lựa chọn dành cho CBNV, phát hành cổ phiếu riêng lẻ... Song để có nguồn lực tài chính vững vàng phục vụ cho nhu cầu dài hơi hơn, một chuyên gia ngân hàng khuyến nghị, các ngân hàng tích cực gọi vốn ngoại, lấp đầy room ngoại. Trong thời gian vừa qua, hoạt động ngân hàng Việt Nam khá vững trước những biến động, củng cố niềm tin nhà đầu tư. Minh chứng là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế vẫn đánh giá tích cực các ngân hàng Việt. Đơn cử, mới đây Vietcombank được S&P nâng xếp hạng tín nhiệm từ mức “BB-” lên mức “BB”. Trên thị trường chứng khoán các NĐT ngoại tích cực gom cổ phiếu ngân hàng, việc này cho thấy nhóm ngành này vẫn giữ được sức hấp dẫn. “Đây là cơ hội thuận lợi để các ngân hàng gọi vốn ngoại”, vị này nhấn mạnh.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.830 24.140 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.860 24.140 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.855 24.155 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.860 24.120 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.860 24.410 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.858 24.170 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.810 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.910 24.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
52.900
53.900
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.500