Ngành gỗ vẫn là điểm sáng xuất khẩu

10:53 | 08/06/2022

Trong những tháng đầu năm 2022, xuất khẩu gỗ luôn đứng trong Top các ngành xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu cao và tăng mạnh.

nganh go van la diem sang xuat khau Ngành gỗ và kỳ vọng bứt phá
nganh go van la diem sang xuat khau Những trăn trở của doanh nghiệp ngành gỗ
nganh go van la diem sang xuat khau Ngành gỗ với thách thức về nguồn cung nguyên liệu

Theo Hiệp hội Gỗ Việt Nam (VIFOREST), từ đầu năm đến nay có nhiều thuận lợi tạo đà cho xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tăng trưởng. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu xuất khẩu gỗ trong năm 2022 thì từ nay đến cuối năm, ngành gỗ còn phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là bài toán về nguyên liệu, phí vận chuyển...

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 5/2022 ước đạt 1,55 tỷ USD, tăng 7,9% so với tháng 5/2021. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 7,15 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2021.

nganh go van la diem sang xuat khau
Nhiều DN ngành gỗ đã có đơn hàng hết năm 2022

Theo đại diện VIFOREST, một trong những thuận lợi của xuất khẩu gỗ thời gian qua chính là việc các DN đã tận dụng tốt những lợi thế và ưu đãi từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) như Việt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… để mở rộng thị trường và tăng khả năng xuất khẩu. Đến nay, hầu hết các DN ngành gỗ đã thích ứng linh hoạt với dịch bệnh và những diễn biến của thị trường, kịp thời đáp ứng các đơn hàng tồn đọng. Hiện tại, nhiều DN đã nhận đơn hàng đến hết quý II/2022, thậm chí nhiều DN đã ký kết các đơn hàng đến cuối năm 2022. Quy mô của các đơn hàng đang tăng lên mạnh, các nhà máy chế biến gỗ đang gia tăng công suất để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Theo ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), với nhiều thuận lợi về xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2022, mục tiêu xuất khẩu của ngành gỗ từ 17,5 - 18 USD là hoàn toàn có thể đạt được. Trong đó, 5 nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực là ghế ngồi sẽ đạt 4,1 tỷ USD; đồ gỗ, đồ nội thất sẽ đạt khoảng 10 tỷ USD; dăm gỗ đạt khoảng 2,1 tỷ USD; viên nén đạt khoảng 0,6 tỷ USD và gỗ dán đạt khoảng 1,3 tỷ USD. Để đạt được kế hoạch thì ngành gỗ cũng như các cơ quan quản lý và DN cần tăng cường nhiều hoạt động kết nối giao thương, tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan mà các FTA mang lại để thâm nhập vào nhiều thị trường mới.

Mặc dù đạt kim ngạch xuất khẩu khả quan, song xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam còn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, điển hình là cước vận chuyển, chi phí logistics tăng cao. Theo phản ánh của các DN, điều này đang khiến giá thành sản phẩm bị đội lên rất cao. Đơn cử như một container đi châu Âu hiện có giá dao động 6.000 - 8.000 USD, đi các cảng bờ Tây nước Mỹ dao động từ 12.000 - 14.000 USD/cont (tùy hãng); đi bờ Đông nước Mỹ như (Baltimore, Miami, New Orleans, Houston…) dao động ở mức cao từ 19.000 - 22.000 USD/cont… Việc tăng cước vận tải biển lên gấp 3-4 lần như vậy trong thời gian vừa qua đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các DN xuất khẩu gỗ.

Bên cạnh đó, các DN cũng đang phải đối mặt với bài toán nguồn nguyên liệu. Hiện nay nguồn cung nguyên liệu khai thác trong nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 75% tổng nhu cầu chế biến, bao gồm khai thác rừng trồng và khai thác cây trồng phân tán, gỗ cao su. Mỗi năm, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 8,5 triệu m3 gỗ.

Theo ông Nguyễn Văn Diện, Vụ trưởng Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp - Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam, thời gian qua giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ các nước tăng cao ảnh hưởng lớn tới chi phí đầu vào của DN sản xuất. Chính phủ cũng đã đưa ra các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ, phục vụ sản xuất đồ gỗ nhằm giảm sự phụ thuộc của ngành vào nguồn gỗ nhập khẩu đặc biệt là nguồn gỗ rủi ro. Tuy nhiên, đến nay kết quả đạt được trong việc tạo nguồn gỗ rừng trồng chất lượng cao vẫn còn thấp, chất lượng nguyên liệu gỗ rừng trồng chưa được cải thiện, trong khi các thị trường nhập khẩu đồ gỗ chính của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản… ngày càng kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc xuất xứ gỗ. Để ngành gỗ phát triển bền vững, cần nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu rừng trồng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tự động hóa trong chế biến sản phẩm gỗ để tăng khả năng cạnh tranh và thâm nhập vào những thị trường khó tính.

Theo đại diện VIFOREST, từ nay đến cuối năm 2022 ngành gỗ sẽ phải nỗ lực rất nhiều để đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đề ra. Theo đó, cần nhanh chóng thực hiện Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021-2030; Hoàn thiện cơ chế chính sách, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp. Cùng với đó, đầu tư đúng mức cho các hoạt động xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, các DN cần chủ động thích ứng với tình hình mới, nâng cao năng lực quản trị, đầu tư công nghệ, tiếp tục khai thác tối đa ưu đãi từ các FTA...

Theo Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021 - 2030 tại Quyết định số 327/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ngày 10/3/2022, mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, ngành công nghiệp chế biến gỗ trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Xây dựng, phát triển thương hiệu sản phẩm gỗ Việt Nam có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế; phấn đấu để Việt Nam nằm trong nhóm các nước hàng đầu thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Phấn đấu giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ vào năm 2025 và 25 tỷ vào năm 2030...

Nguyễn Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850