Nguy cơ nông sản Việt thất sủng ở ASEAN

09:57 | 15/05/2020

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện còn hạn chế và chưa được cải thiện đáng kể. Có một số mặt hàng từng là thế mạnh của Việt Nam như gạo và cao su đang mất dần thị phần ở các thị trường trọng điểm. Các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam cũng có sức cạnh tranh rất thấp do sản xuất nghiêng về số lượng và chất lượng thì giảm, nên thường phải đối mặt với nhiều rủi ro.

Nông sản xuất siêu gần 2,8 tỷ USD
Nông sản rà soát “bắt sóng” các thị trường
Nâng cao khả năng ứng phó với thị trường

Theo Bộ Công thương, trong hội nhập kinh tế ASEAN, Việt Nam đã khai thác cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu, bước đầu tham gia vào chuỗi cung ứng khu vực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải cách chính sách trong nước, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu hội nhập.

Với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tác thương mại quan trọng. So với thời điểm bắt đầu tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN năm 1996, đến nay kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam với ASEAN tiếp tục phát triển, với mức tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, từ 3,3 tỷ USD năm 1995 lên 56,3 tỷ USD năm 2018.

Trái sầu riêng Việt Nam hoàn toàn có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Thái Lan

Năm 2019, trước bối cảnh giảm sút trong tổng cầu của kinh tế thế giới, hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với các nước ASEAN và đối tác vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình ổn và khả quan. Quy mô các mặt hàng xuất khẩu và thị trường xuất nhập khẩu tiếp tục được mở rộng, không chỉ tăng cường ở các thị trường truyền thống trong ASEAN mà còn khai thác được các thị trường mới, tận dụng hiệu quả các FTA ASEAN+.

Tuy vậy, Bộ Công thương cũng chỉ ra những vướng mắc khi doanh nghiệp Việt Nam khai thác thị trường này. Trong lĩnh vực kinh tế, các thành viên ASEAN phần lớn có cơ cấu kinh tế tương đối giống Việt Nam, cơ cấu xuất khẩu cũng tương đồng, thậm chí là cạnh tranh nội khối cũng không nhỏ nên sau giai đoạn hội nhập ban đầu, lợi ích thu được từ hội nhập ASEAN trong mấy năm gần đây chưa có dấu hiệu tăng trưởng.

Trong khi đó, Bộ Công thương cũng nhận định, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện còn hạn chế và chưa được cải thiện đáng kể. Có một số mặt hàng từng là thế mạnh của Việt Nam như gạo và cao su đang mất dần thị phần ở các thị trường trọng điểm. Các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam cũng có sức cạnh tranh rất thấp do sản xuất nghiêng về số lượng và chất lượng thì giảm, nên thường phải đối mặt với nhiều rủi ro.

Do vậy, mặc dù về thuế suất nhập khẩu với các mặt hàng nông thủy sản đã được cắt giảm rất nhiều theo các FTA trong khuôn khổ ASEAN, nhiều sản phẩm hàng hóa của Việt Nam vẫn chưa cạnh tranh được ở thị trường các nước trong khu vực. Chưa kể, điểm yếu của Việt Nam là khoảng 90% nông sản vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, nên giá trị gia tăng thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác.

Cùng với đó, hàng xuất khẩu của Việt Nam còn gặp khó khăn khi đối mặt với các hàng rào kỹ thuật của các nước ASEAN do chất lượng chưa cao.

Tuy vậy, từ kinh nghiệm nghiên cứu thị trường Thái Lan lâu năm, bà Nguyễn Thị Thành Thực, Chủ tịch CTCP Bagico cho rằng, nông sản Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh với hàng Thái Lan ngay trên đất Thái. "Có nhiều sản phẩm của Việt Nam trùng lắp với Thái Lan như sầu riêng, nhãn... nhưng hương vị thơm ngon hơn sản phẩm của Thái Lan. Tại sao Việt Nam không thể đưa nông sản chiếm lĩnh người tiêu dùng, khách du lịch ở trên chính đất Thái Lan? Tuy nhiên, muốn làm được điều này, Việt Nam cần phải nâng cao năng lực trong việc xây dựng chuỗi liên kết, năng lực làm truyền thông, bán lẻ", bà Thực nói.

Hay hiện tại, thị trường Singapore đang bị đứt gãy chuỗi cung ứng thực phẩm do dịch Covid-19. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này.

Năm nay, để đạt được mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản với kim ngạch 42 tỷ USD, tăng trưởng xuất khẩu nông sản sang ASEAN phải tăng 9%, để bù đắp sự sụt giảm của thị trường EU và Mỹ, đại diện Bộ NN&PTNT cho biết.

Việt Nam với vai trò là Chủ tịch ASEAN trong năm nay, có thể tổ chức những hội nghị về nông nghiệp, qua đó đưa sản phẩm của các nước trong khu vực ra thế giới. Cùng với đó, thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình xuất khẩu nông sản qua các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc; làm việc với phía bạn để xác định cụ thể các biện pháp bảo đảm thông quan hàng hóa, kiểm soát tốt dịch bệnh. Ngoài ra, Bộ NN&PTNT tập trung giải quyết các rào cản kỹ thuật, đàm phán mở rộng thị trường sang các nước EU, Hoa Kỳ, Brazil…

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.200 23.410 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.230 23.410 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.213 23.403 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.215 23.425 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.198 23.398 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.230 23.400 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.260 23.390 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.340
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.340
48.750
Vàng SJC 5c
48.340
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.480
48.180
Vàng nữ trang 9999
47.180
47.980