NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình - hành trình 70 năm hình thành và phát triển

15:04 | 04/05/2021

Bà Phan Thị Tuyết Trinh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh tỉnh Thái Bình trao đổi với phóng viên về những bước phát triển của ngành Ngân hàng Thái Bình trong hành trình 70 năm hình thành và phát triển.

nhnn chi nhanh tinh thai binh hanh trinh 70 nam hinh thanh va phat trien

Trong hành trình 70 năm qua, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình đã hình thành và phát triển thế nào, thưa bà?

Năm 1951, Tỉnh ủy Thái Bình quyết định thành lập Đại lý Ngân hàng Quốc gia tỉnh Thái Bình, trên cơ sở tiếp nhận hai tổ chức “Ty tín dụng sản xuất” và “Ngân khố Quốc gia”, sau đổi thành Chi nhánh Ngân hàng Quốc gia - tiền thân của NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình ngày nay.

Trải qua nhiều năm hoạt động, sau những lần sáp nhập, chia tách… hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Bình luôn duy trì sự phát triển, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung của ngành Ngân hàng và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình, của đất nước.

Chắt lọc nên ngần ấy chữ, có thể khẳng định chặng đường 70 năm qua là kết tinh biết bao mồ hôi, nước mắt của các thế hệ những người làm công tác ngân hàng trên quê lúa Thái Bình, để hệ thống ngân hàng Thái Bình không ngừng đổi mới, phát triển mạnh cả về quy mô, loại hình hoạt động.

Vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, trong kháng chiến, thời kỳ xóa bỏ cơ chế bao cấp và công cuộc đổi mới… đội ngũ cán bộ ngành Ngân hàng Thái Bình đã lớp lớp trưởng thành trên tất cả các mặt, nối tiếp nhau, xây đắp nên truyền thống 70 năm rất đáng tự hào, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở địa phương.

Trong 3 năm đầu đi vào hoạt động, trong hoàn cảnh giặc Pháp đánh phá ác liệt ở Thái Bình, công cuộc đấu tranh tiền tệ với địch vô cùng gay go, ác liệt, các phòng giao dịch cửa khẩu đấu tranh tiền tệ với địch không để tiền Đông Dương của địch tràn vào khu căn cứ du kích của ta.

Ba năm sau (1955-1957), hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Bình đã quản lý số vốn 3,6 triệu đồng và cho vay 4,8 triệu đồng. So với bây giờ, đó là một con số quá nhỏ bé nhưng ở vào thời điểm đó thì đây lại là kết quả rất đáng khích lệ.

Bước vào giai đoạn cuối những năm 90, khi mà cơ chế cũ và cơ chế mới còn đan xen với nhau, hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn: Trên địa bàn tỉnh thành lập nhiều ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng lần lượt ra đời, sự cạnh tranh trên thị trường tiền tệ ngày càng thêm quyết liệt. Mặt khác, do sự đổi mới cơ chế quản lý, hoạt động của các đơn vị kinh tế ở Thái Bình có sự phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, vốn tự có của các đơn vị quá thấp khiến họ khó tự chủ về tài chính, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tín dụng ngân hàng.

Ở một tỉnh kinh tế nông nghiệp là chủ yếu như Thái Bình, để có vốn đầu tư cho tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các ngân hàng trên địa bàn đã có các biện pháp tạo nguồn vốn một cách đa dạng, linh hoạt, khai thác tối đa vốn tại địa phương, tranh thủ nguồn vốn điều hòa của Trung ương, đây vừa là yêu cầu của nền kinh tế, vừa là mệnh lệnh của cuộc sống, cũng là điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Do đó, nguồn vốn huy động cuối năm 1990 là 142 tỷ đồng, đến cuối năm 1995 là 647 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 35,6%, giảm nguồn vốn điều hòa vay Trung ương nhờ có nguồn tăng từ địa phương.

Giai đoạn 10 năm từ 1990 - 2000, kinh tế Thái Bình có sự tăng trưởng nhanh nhờ chủ trương phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ, như phát triển nghề và làng nghề, chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng thâm canh tăng năng suất, xây dựng cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đồng/ha, đầu tư phát triển chăn nuôi, kinh tế biển và cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất... Dư nợ kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng 25%, các thành phần kinh tế khác chiếm 75%.

Đồng vốn vay của ngân hàng đã giúp trên 15.000 hộ nghèo ở Thái Bình thoát nghèo, đưa số hộ nghèo của tỉnh Thái Bình còn 2,35% thấp nhất so với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, được các cấp ủy, chính quyền các cấp ở tỉnh Thái Bình đánh giá cao.

nhnn chi nhanh tinh thai binh hanh trinh 70 nam hinh thanh va phat trien
Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình kiểm tra hoạt động nghiệp vụ tại Phòng Kế toán - Thanh toán. (Ảnh: Báo Thái Bình)

Theo bà, sự lớn mạnh ấy đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn chưa?

Nhìn lại chặng đường đi lên của hệ thống ngân hàng tỉnh Thái Bình suốt 70 năm qua, các thế hệ lãnh đạo và cán bộ nhân viên trong Ngành tự hào trước sự trưởng thành và lớn mạnh. Từ số vốn 3,6 triệu đồng, đến cuối năm 2020 tổng nguồn vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 85.700 tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2015. Trong đó, tiền gửi tổ chức kinh tế chiếm 8%, tiền gửi dân cư chiếm 92%, tiền gửi bằng VND chiếm 98,5% tổng nguồn vốn huy động.

Có được kết quả trên, hệ thông ngân hàng Thái Bình đã đẩy mạnh huy động vốn bằng các hình thức đa dạng, tăng cường huy động trung - dài hạn, khuyến khích mở tài khoản thanh toán, đổi mới tác phong, lề lối làm việc, kết hợp nâng cao chất lượng dịch vụ, lấy tiện ích của khách hàng làm mục tiêu phấn đấu của mỗi cán bộ, nhân viên ngân hàng.

Bên cạnh nguồn vốn huy động tại địa phương, các tổ chức tín dụng đã tranh thủ sử dụng các nguồn vốn điều hòa, vay từ hội sở chính, góp phần đảm bảo khả năng thanh khoản, mở rộng đầu tư cho vay các lĩnh vực, thành phần kinh tế, các dự án lớn, các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình.

Bộ máy hoạt động cũng không ngừng lớn mạnh về quy mô tổ chức, đến nay, NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, có 26 ngân hàng hoạt động và 85 quỹ tín dụng nhân dân. Các tổ chức tín dụng đã thành lập 8 chi nhánh cấp huyện, thành phố, 93 phòng giao dịch, 45 quỹ tín dụng mở rộng địa bàn, 260 điểm giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội tại các xã, phường, thị trấn.

Dư nợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình đến 31/12/2020 đạt 65.300 tỷ đồng, tăng 2,1 lần so với 5 năm trước; tỷ lệ nợ xấu chỉ chiếm 0,95% tổng dư nợ. Như đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thái Bình khẳng định: “Mặc dù qua 70 năm xây dựng và phát triển, ngành Ngân hàng cả nước nói chung và hệ thống ngân hàng Thái Bình nói riêng gặp nhiều khó khăn, thử thách nhưng đã có bước phát triển rất nhanh và hiệu quả”.

Chỉ tính riêng năm 2020, trước thềm kỷ niệm 70 năm thành lập, ngành Ngân hàng Thái Bình đã có nhiều nỗ lực, cố gắng, đưa nguồn vốn huy động tăng trưởng cao, cơ cấu tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cho vay các chương trình, chủ trương chính sách của tỉnh, nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp, các dịch vụ ngân hàng hiện đại tiếp tục được đẩy mạnh, cơ cấu tiền mặt hợp lý trong lưu thông, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các tổ chức kinh tế và nhân dân, phục vụ sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa.

Hệ thống ngân hàng trên địa bàn hoạt động an toàn, không xẩy ra vụ việc nổi cộm, góp phần tích cực vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, duy trì và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, đóng góp tích cực vào kết quả xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế của Thái Bình.

Tuy nhiên, trong sự phát triển của nền kinh tế, với hệ thống ngân hàng được xác định là “bà đỡ”, nhưng để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thì còn phải nỗ lực nhiều hơn. NHNN Chi nhánh tỉnh Thái Bình tập trung vào các nhóm giải pháp chính: Tổ chức triển khai hiệu quả chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, định hướng, chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng cường đầu tư cho vay nền kinh tế; tập trung các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, của tỉnh; Tăng cường thanh tra, giám sát, tiếp tục triển khai cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu; Phòng chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; Chấn chỉnh, củng cố hoạt động hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, xử lý các quỹ yếu kém và tăng cường quản lý, giám sát tài chính vĩ mô; Phát triển mạnh dịch vụ thanh toán, đảm bảo an ninh, an toàn trong mọi hoạt động.

Các tổ chức tín dụng đẩy mạnh huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế thông qua việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đa dạng hóa các loại hình huy động và cho vay, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; thực hiện các giải pháp tăng trưởng tín dụng có hiệu quả đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng phù hợp với mục tiêu, định hướng chung của ngành; Thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; Phát triển mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; Triển khai có hiệu quả đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công; Nâng cấp cơ sở vật chất, hiện đại hóa công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng; Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng theo tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực quy định, đáp ứng yêu cầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành Ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.

Thành công, kết quả và những kinh nghiệm 70 năm qua là bài học quý để ngành Ngân hàng Thái Bình hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao.

Phạm Việt Thanh (thực hiện)

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900