Chỉ số kinh tế:
Ngày 16/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.131 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.925/26.337 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
dai-hoi-dang

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883) Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Tiền mang mỹ hiệu được đúc bằng đồng, có loại 4 chữ, loại 8 chữ như các đời vua trước nhưng số lượng ít hơn.
aa
Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu

Mỹ hiệu 4 chữ:

- Tự Đức thông bảo - Trung hoà vị dục

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi bốn 4 chữ Hán “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Trung hoà vị dục” 中和位育. Đường kính 51,5mm, dày 3mm, nặng 33,1gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Tiền Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Trung hoà vị dục” 中和位育, đk 51,5mm

- Tự Đức thông bảo - Tứ phương vi tắc

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi bốn 4 chữ “Tự Đức thông bảo” - 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Tứ phương vi tắc”- 四方爲則. Đường kính 52mm, dày 2,8mm, nặng 35gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.121. Tiền Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc 4 chữ “Tứ phương vi tắc” 四方爲則, đk 52mm

- Tự Đức thông bảo – Du cửu vô cương

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi bốn 4 chữ “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Du cửu vô cương”- 悠久無彊. Đường kính 48mm, dày 2mm, nặng 32gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.122. Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc 4 chữ “Du cửu vô cương”- 悠久無彊, đk 48mm

- Tự Đức thông bảo - Cương kiện trung chính

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Cương kiện trung chính”- 剛健中正. Đường kính 50,5m, dày 3,1mm, nặng 33,4gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.123. Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng đúc 4 chữ “Cương kiện trung chính”- 剛健中正, đk 50,5mm

- Tự Đức thông bảo 嗣德通寳- Triệu dân duẫn hoài 兆民允懷

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Triệu dân duẫn hoài”- 兆民允懷. Đường kính 51,5mm, dày 3mm, nặng 37,5gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.124. Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc 4 chữ “Triệu dân duẫn hoài” - 兆民允懷, đk 51,5mm

- Tự Đức thông bảo - Thứ chính duy hoà

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và gờ lỗ vuông ở cả hai mặt. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ Hán “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Thứ chính duy hoà” - 庶政惟和. Đường kính 52,5mm, dày 4mm.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.125. Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc 4 chữ “Thứ chính duy hoà” 庶政惟和, đk 52,5mm

- Tự Đức thông bảo - Vạn vật tư sinh

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tền đúc nổi 4 chữ “Vạn vật tư sinh”- 萬物資生. Đường kính 52mm, dày 2mm, nặng 37,6gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Ảnh 1.11.126. Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, ưng tiền đúc 4 chữ “Vạn vật tư sinh” 萬物資生, đk 52mm

- Tự Đức thông bảo 嗣德通寳- Nguyên hanh lợi trinh

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền đúc nổi 4 chữ Hán “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Nguyên hanh lợi trinh”-元亨利貞. Đường kính 55mm, dày 3mm, nặng 30,5gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng tiền đúc 4 chữ “Nguyên hanh lợi trinh” 元亨利貞, đk 55mm

- Tự Đức thông bảo- Phúc lý tuy tương

Tiền có dáng tròn, lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ vuông. Mặt tiền: đúc nổi 4 chữ “Tự Đức thông bảo”- 嗣德通寳 theo kiểu Chân thư, đọc chéo. Lưng tiền đúc nổi 4 chữ “Phúc lý tuy tương”- 福履綏將. Đường kính 50,5mm, dày 3mm, nặng 33,8gr.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)  Kỳ I - Tiền có mỹ hiệu
Tự Đức thông bảo 嗣德通寳, kiểu Chân thư, lưng đúc 4 chữ “Phúc lý tuy tương”- 福履綏將 , đk 50,5mm

Đón đọc Kỳ II: Tiền đời Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883) - Tiền mỹ hiệu 8 chữ


Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Biên tập: Mạnh - Thắng | Đồ họa: Văn Lâm

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 2 (1942)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 2 (1942)

Ngân hàng Đông Dương phát hành thêm tiền 10, 20 và 50 cents, hình thức và màu sắc giống kỳ 1 (1940) nhưng thay chữ ký Louis Mayer và Yves Cazaux. Các tờ đều màu nâu đỏ, hình chữ nhật, phát hành toàn Đông Dương.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 1 (1940)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 1 (1940)

Từ năm 1940, chính phủ Vichy (Pháp) do Thống chế Philippe Pétain đứng đầu cho phép Ngân hàng Đông Dương phát hành những loại tiền hào mệnh giá nhỏ (1 hào=10 xu).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 4 (1936-1939)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 4 (1936-1939)

Trong kỳ phát hành này, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục in các mệnh giá của kỳ 3 nhưng thay đổi chữ ký, đồng thời bổ sung hai mệnh giá mới là 20 piastres và 500 piastres. Các tờ tiền 1, 5 và 100 piastres có hình thức, màu sắc và bố cục tương tự các kỳ trước, chỉ khác chữ ký. Riêng tờ 20 piastres và 500 piastres có thiết kế nổi bật với khung nền “BANQUE DE L’INDOCHINE”, hình Marianne, Angkor Wat, quả địa cầu và voi, phát hành lưu hành trên toàn Đông Dương.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 3 (1932 -1936)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 3 (1932 -1936)

Năm 1930, cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1929-1933 tại các nước tư bản chủ nghĩa đã lan sang các thuộc địa, nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trầm trọng do nền kinh tế của nước thuộc địa phụ thuộc vào kinh tế của chính quốc là nước Pháp. Thực dân Pháp đã thi hành một loạt biện pháp kinh tế - tài chính như: rút vốn đầu tư về các ngân hàng Pháp, dùng tiền của ngân sách Đông Dương trợ cấp cho các công ty tư bản đang có nguy cơ bị phá sản… Trước tình hình đó, Ngân hàng Đông Dương phải phát hành thêm năm mẫu giấy bạc mới. Các đồng tiền phát hành dù vẫn được đảm bảo bằng vàng dự trữ trong ngân hàng, nhưng giá trị thực của nó không còn được như trước.
Tiền triều Trần (1225 - 1400) - Kỳ I

Tiền triều Trần (1225 - 1400) - Kỳ I

Năm 1211, Thái tử Lý Sảm lên ngôi (tức vua Lý Huệ Tông). Do bệnh tình liên miên nên phần lớn triều chính được giao cho Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ. Vua Lý Huệ Tông chỉ có hai con gái, trưởng nữ là Thuận Thiên công chúa, thứ nữ là Chiêu Thánh công chúa (tức Lý Phật Kim).
Thiết kế tiền Việt Nam: Lịch sử và nhân chứng

Thiết kế tiền Việt Nam: Lịch sử và nhân chứng

“Ngoài việc tạo cho đồng tiền có hình thức đẹp hài hòa giữa kỹ thuật và mỹ thuật, thì họa sĩ còn phải là một nhà công nghệ, một nhà bảo an với nhiều thủ thuật để có khả năng chống làm giả, kể cả các thiết bị sao chụp...”, họa sĩ Trần Tiến, nguyên Trưởng phòng thiết kế mẫu tiền (Cục Phát hành và Kho quỹ - NHNN) đã bắt đầu với chúng tôi như thế khi chia sẻ những câu chuyện nghề, chuyện đời của mình.
Ngoảnh lại một hành trình

Ngoảnh lại một hành trình

75 năm với 6 bộ tiền. Có thể nói, gắn với con số 6 tưởng đơn giản, khô khan ấy là cả một bề dày lịch sử với biết bao câu chuyện, cũng như bao thành tựu đáng tự hào.
Chuyện những người vẽ tiền

Chuyện những người vẽ tiền

Thiết kế tiền là một nghề đòi hỏi kỹ thuật rất cao nhưng lại không có trường đào tạo, cho nên các “bí kíp” cũng như kinh nghiệm thiết kế tiền ở Việt Nam thường chỉ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hoặc tự mày mò học hỏi các kỹ thuật in tiền tiên tiến ở các nước trên thế giới.